Theo Liên Hiệp Quốc, nước kém phát triển nhất (tên viết tắt trong tiếng Anh là LDC=least developed country) là tên dành cho một quốc gia chứng tỏ có những định mức thấp nhất về phát triển kinh tế xã hội, với một chỉ số phát triển nhân bản thấp nhất so với các nước khác trên thế giới. Ý niệm này phát xuất trong thập niên 1960 và danh sách đầu tiên của các nước này được LHQ công bố trong nghị quyết số 2768 ngày 18 tháng 11 năm 1971. Có 3 tiêu chuẩn để xếp loại các quốc gia loại này: lợi tức thấp (3 năm bình quân lợi tức đầu người ít hơn 905 mỹ kim, sẽ thoát khỏi danh sách nếu vượt quá 1086 mỹ kim), yếu kém về tài nguyên nhân bản (dinh dưỡng, y tế, giáo dục và người lớn biết chữ) và dễ bị thương tổn về kinh tế (bất ổn về sản xuất nông nghiệp, về xuất cảng hàng hóa và dịch vụ…). Tính đến ngày 1/1/2011, có 48 quốc gia thuộc loại này, trong đó Châu Phi có 33 nước, Á Châu có 14 nước và Trung Mỹ có 1 nước. Việt Nam không có tên trong danh sách này, nhưng 2 láng giềng là Cămbốt và Lào đều có tên.

Đến nay, LHQ đã tổ chức 4 hội nghị về các nước kém phát triển nhất, mà hội nghị mới nhất diễn ra tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ từ ngày 9 tới ngày 13 tháng 5 vừa qua, với sự tham dự của Ban Ki-Mon, Tổng Thư Ký LHQ, gần 50 thủ tướng và quốc trưởng. Các tham dự viên hội nghị đặt mục tiêu giúp một nửa các nước kém phát triển nhất ra khỏi danh sách này vào năm 2022.

Chính tại hội nghị này, Đức TGM Silvano Tomasi, đại diện thường trực của Tòa Thánh bên cạnh các cơ quan LHQ tại Genève, đã đọc một tham luận giá trị, trong đó, ngài cho hay khuôn mẫu phát triển của các nước kém phát triển nhất (LDC) trong các năm qua tỏ ra không hữu hiệu vì kể từ đầu thập niên 2000, mức phát triển liên tục (7% hàng năm từ 2002 tới 2007) tại nhiều nước LDC đã không diễn dịch thành cải thiện hoàn cảnh cho nhân dân. Con số những người rất nghèo thực sự gia tăng: hơn 3 triệu người hàng năm từ 2002 tới 2007. Năm 2007, 59% dân tại các nước LDC ở Châu Phi sống với non 1.25 mỹ kim 1 ngày.

Hiện nay, mức tăng tại nhiều quốc gia loại này chủ yếu phát sinh từ việc khai thác và xuất cảng các tài nguyên thiên nhiên trong khi việc gia tăng tại các khu vực khác không mạnh hay không nhất quán. Đáng tiếc là mức tăng nói trên bị nhiều tranh cãi về phân phối lợi nhuận và ảnh hưởng tới cộng đồng địa phương, và chỉ tạo ra công ăn việc làm ở giai đoạn thăm dò và xây dựng dự án, nhưng những công việc này không có tính dài hạn… Tác động của hiện tượng nhân dụng hạn chế này được giới trẻ và những người lần đầu bước vào thị trường nhân dụng cảm nghiệm thấm thía hơn cả. Các nước thành công cho thấy họ chú trọng tới khả năng sản xuất như trồng trọt.

Tòa Thánh ủng hộ đề nghị của cơ quan phát triển LHQ (UNCTAD) nhằm đưa ra một phương thức toàn bộ cho các thách đố phát triển, nhấn mạnh tới cấu trúc quốc tế mới để phát triển, nhu cầu phải chuyên biệt xem sét việc quản lý các tình thế hậu tranh chấp, tái thiết các hạ tầng cơ sở và sản xuất nông nghiệp, đồng thời lưu tâm tới phương thức tiếp cận miền đối với các vấn đề đem ra xem sét. Tuy nhiên, Tòa Thánh tập chú vào 3 chủ đề sau đây:

a) Cần phát triển toàn bộ con người. Trong thông điệp “Đức ái trong chân lý”, Đức GH Bênêđíctô XVI đã duyệt lại giáo huấn nền tảng về phát triển đã được Đức GH Phaolô VI trình bày trong thông điệp “Về tiến bộ của các dân tộc” năm 1967: “không thể chỉ giới hạn phát triển vào gia tăng kinh tế mà thôi. Muốn chân chính, nó phải đầy đủ: toàn bộ, nghĩa là phải cổ vũ thiện ích của mọi người và toàn bộ con người (1). Điều quan trọng là phải nhớ giáo huấn quan trọng này về bản chất của phát triển và phục hồi sự thật trung tâm của nó khi suy tư các thách thức chuyên biệt mà các nước LDC trình bày tại hội nghị này.

Từ năm 1967, nhiều lý thuyết và phương thức phát triển đã được đề xuất và thử nghiệm, nhờ thế, người ta đã hiểu sâu sắc hơn các thách thức phức tạp và đang diễn biến mà chủ đề này nêu ra. Tuy nhiên, vẫn còn hàng triệu người chỉ được rất ít hay không được hưởng chút nào các thiện ích và phúc lợi do phát triển đem tới. Đức Thánh Cha đã trung thực đánh giá sự tiến bộ từ trước đến nay như sau “… tiến bộ, vẫn còn là một câu hỏi mở, càng chỉ bị cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chánh hiện nay làm cho sắc bén và khẩn trương hơn. Nếu một vài khu vực trên thế giới, vốn có một lịch sử nghèo đói, nay đang được thấy những thay đổi đáng kể về phát triển kinh tế và được chia sẻ sức sản xuất của thế giới, thì vẫn còn nhiều khu vực khác đang tiếp tục sống trong hoàn cảnh thiếu thốn tương tự như hoàn cảnh thời Đức Phaolô VI, và trong một số trường hợp, người ta còn có thể cho là suy thoái nữa” (2).

Đức TGM Tomasi trình bày tiếp: theo nhiều lượng giá khác kể cả phúc trình của UNCTAD nói trên, ta được biết rằng việc chủ yếu là phải đưa ra được một khuôn khổ toàn bộ và có tính bao hàm cho việc phát triển quốc tế, nếu muốn đạt được những kết quả lâu dài. Trong truyền thống Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo, người ta đã nhận diện được nhiều trụ cột cho một khuôn khổ như thế: tôn trọng nhân phẩm; bảo vệ nhân quyền; săn sóc tạo dựng; tham gia vào cộng đồng, phụ đới và liên đới. Các trụ cột khác vốn được coi như cần thiết cho kế hoạch phát triển toàn bộ là: giáo dục, khai thác tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp, kỹ nghệ chế tạo, thương mại, dịch vụ tài chánh, hạ tầng cơ sở và kỹ thuật. Các trụ cột này phải được dùng như những chỉ dẫn cho các cố gắng của ta nhằm phát huy và duy trì phương thức phát triển vừa toàn bộ vừa có tính nhân bản chân chính (3).

b) Chủ đề thứ hai, theo Đức TGM Tomasi, là loại tăng trưởng cần thiết để “phát triển toàn bộ con người”. Chủ đề này nhấn mạnh rằng “việc phát triển các cá nhân và các dân tộc tùy thuộc một phần ở việc giải quyết các vấn đề có bản chất tâm linh. Việc phát triển phải bao gồm không những sự tăng trưởng vật chất mà cả sự tăng trưởng tâm linh nữa” (4). Việc sử dụng các cân thước định lượng và các tiêu chuẩn kinh tế để đo lường các thực tại như sản lượng sổi quốc nội, sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán rất thường hay thất bại trong việc nắm bắt đầy đủ điều tạo nên tính nhân bản thực sự, không đánh giá được chiều kích siêu việt của con người và do đó không nắm được điều cần nắm để phát huy việc phát triển toàn bộ con người.

Chính vì thế, sự tăng trưởng nào muốn phát huy được “việc phát triển toàn bộ con người” đều phải bao gồm các trụ cột vừa nhắc ở trên. Sự tăng trưởng này được đánh giá theo mức độ nó cổ vũ sự phát triển lâu dài, sự phát triển cộng đồng, tạo ra công ăn việc làm xứng đáng, giảm mức nghèo đói của người ta, và bảo vệ môi sinh. Mô thức tăng trưởng nào bao gồm được các mục tiêu trên chắc chắn sẽ xây dựng được một chu kỳ kinh tế và thương mãi quốc nội có tính lâu bền, biết tôn trọng môi sinh và cổ vũ phát triển. Trong mô thức tăng trưởng này, nhất là tại các nước LDC, các yếu tố cần thiết là: một khu vực nông nghiệp sôi động, tạo công ăn việc làm ở nhiều khu vực khác nhau đủ để cung ứng cho lượng người lớn lao gia nhập thị trường nhân dụng. Trong 20 năm qua, tại các quốc gia kém mở mang nhất chẳng hạn, trị giá gia tăng nông nghiệp đối với công nhân lên chậm hơn 3 lần so với lợi tức tính theo đầu người. Đồng thời, việc tùy thuộc của các quốc gia này vào thực phẩm nhập cảng đã gia tăng đáng kể (tăng gấp 3 lần giữa các năm 2000 và 2008). Kết quả là: chính trong số 2.5 tỷ người lệ thuộc nông nghiệp để sống còn hàng ngày, người ta thấy có nhiều người bị thiếu dinh dưỡng và đói khát nhất.

Cho nên, bất cứ mô thức tăng trưởng nào muốn được chấp thuận, đều phải thừa nhận và củng cố vai trò trung tâm của nông nghiệp trong hoạt động kinh tế; nhờ thế, giảm thiểu được nạn thiếu dinh dưỡng ở các khu vực nông thôn và gia tăng được sản xuất tính theo đầu người để cải thiện việc độc lập về thực phẩm cho địa phương, cho miền hay cho quốc gia.

Các đầu tư để cải thiện sản xuất hết sức cần thiết trong các phạm vi hạt giống, huấn luyện, chia sẻ dụng cụ canh tác và các phương tiện tiếp thị. Các thay đổi về cơ cấu cũng cần có theo tính chuyên biệt của từng quốc gia. Thí dụ, ta phải đảm bảo an toàn quyền canh tác đất đai cho nông dân, nhất là những người canh tác nhỏ. Quyền sở hữu đất đai theo tập quán cần được xem sét lại. Quyền rõ ràng về đất đai sẽ đem lại cho nông dân cơ hội thế chấp đất đai của họ đổi lấy tín dụng theo mùa để mua các nhập lượng cần thiết. Thêm vào đó, mục tiêu của quyền đất đai hiện nay trở nên càng ngày càng quan trọng trước việc phát triển của hiện tượng cướp đất. Tại vùng Hạ Sahara của Châu Phi, 80% đất đai bị chiếm cứ bởi những người nghèo vốn không sở hữu một tấc đất.

Trong mọi khu vực của xã hội từ nông nghiệp qua chế tạo tới dịch vụ, ta đều phải nhớ rằng công việc xứng đáng “nói lên phẩm giá yếu tính của mọi người đàn ông và đàn bà trong bối cảnh xã hội đặc thù của họ: việc làm được tự do lựa chọn, hữu hiệu liên kết công nhân, cả đàn ông lẫn đàn bà, với việc phát triển cộng đồng của họ” (5). Việc làm không phải là một món hàng. Việc làm xứng đáng đem lại cho mọi người cơ hội sử dụng các tài năng của mình và trở nên sáng tạo; nó là động cơ của tăng trưởng lâu bền để phục vụ ích chung và do đó, phải là mục tiêu trung tâm của cấu trúc mới. Như thế, mục tiêu sau cùng phải là việc tạo ra một “việc làm giúp các gia đình thoả mãn được các nhu cầu của mình và giúp con cái họ được học hành, thay vì bị cưỡng bức phải lao động; một việc làm cho phép công nhân tự do tổ chức lấy mình, và làm cho tiếng nói của mình được lắng nghe; một việc làm chừa đủ chỗ để tái khám phá căn cội của mình trên bình diện bản thân, gia đình và tâm linh; một việc làm bảo đảm cho những ai hưu trí có được một tiêu chuẩn sống xứng đáng” (6).

c) Chủ đề thứ ba là vai trò của Nhà Nước phải phát huy “việc phát triển con người toàn diện”. Theo Đức TGM Tomasi, con số các định chế, các tác tố và tác nhân trong lãnh vực phát triển đã gia tăng theo cấp số nhân trong mấy năm qua. Các cam kết phát triển chính thức của các chính phủ cũng như của các cơ quan thiện nguyện hết sức có chất lượng trong khoảng thời gian này. Các cam kết này đang được tham gia và trong một số trường hợp còn bị qua mặt bởi sự hiện diện của các tác nhân như tập đoàn công ty (corporations), qũy tư nhân và các nhà đầu tư cá nhân. Đức TGM tin chắc rằng ta cần đến họ và phải dành chỗ để họ có thể mang vào nhiều tầm nhìn, nhiều mô thức hành động khác nhau và do đó, đóng góp độc đáo cho việc phát triển cần thiết tại các nước LDC.

Tuy nhiên, trong môi trường này, vai trò của nhà nước và của các thẩm quyền miền, quốc tế và hoàn cầu rất chủ yếu và cần được nâng đỡ và tôn trọng. Phối hợp với tầm nhìn Công Giáo về trách nhiệm của nhà nước phải đảm bảo trật tự công cộng và cổ vũ ích chung, các cơ phận này phải đóng một vai trò chủ yếu để điều hợp và điều hướng việc phát triển tại các nước LDC. Điều này có thể đặc biệt thách thức trong một bối cảnh hậu tranh chấp và đặc biệt là như thế trong hoàn cảnh một “nhà nước thất bại”.

Giáo huấn truyền thống Công Giáo, khi nói về trách nhiệm của chính phủ phải ban hành cái khung và các qui định pháp lý sao cho hoạt động tài chánh và thương mại phải hoàn thành được mục tiêu và chức năng xã hội một cách êm thắm, đã nhất quán khẳng định vai trò tích cực cho một chính phủ biết tự chế, nghĩa là một chính phủ không quá tự do hay quá duy tập thể (collectivist). Trong cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008, người ta thấy rõ điều này: thị trường không đương nhiên chứa trong mình nó các yếu tố cần thiết cho việc tự động điều chỉnh các sai lầm và đáng lẽ đã dẫn tới việc xụp đổ cả hệ thống tài chánh và kinh tế nếu các nhà nước không ra tay hành động. Việc cứu các ngân hàng, tuy là cần thiết, đã không ngăn được tác động đau đớn đối với dân chúng vì tựu trung, việc điều chỉnh các thất thường của thị trường đã tiến hành một cách bất lợi cho dân chúng, nên nhà nước có nhiệm vụ phải can thiệp bằng cách đánh phủ đầu để tránh cái đau đớn kia. Các thẩm quyền chính trị ở các bình diện địa phương, quốc gia và quốc tế cần phải điều hướng diễn trình hoàn cầu hóa kinh tế. Đây là cách đảm bảo rằng việc hoàn cầu hóa này không phá hoại nền tảng của dân chủ.

Dù nhìn nhận các lợi ích của tự do giao thương để cổ vũ phát triển và do đó, cổ vũ tính khẩn thiết phải lấp đầy khoảng trống đã ghi trong Vòng Phát Triển Doha, nhưng việc thực thi các cam kết cho các nước LDC được miễn môn bài (duty free), được tự do vào thị trường theo định mức (quota) cần được kèm theo bằng những biện pháp thích đáng để bảo vệ các nông dân khỏi chịu tính thất thường về giá cả vốn gây tác động mạnh đối với sự an toàn thực phẩm vì một số lý do: gía cao làm người nghèo không đủ tiền mua thực phẩm, còn giá tạm thời thấp trong lúc này không giúp nông dân có được tư liệu chính xác về việc gieo vãi sau mùa gặt cho vụ mùa năm sau. Để tránh được tính thất thường về giá cả hay ít nhất để làm tác động của nó suy giảm, các vụ thu hoạch lương thực tại địa phương cần được bảo vệ chống lại những thay đổi bất ngờ về giá cả quốc tế. Thí dụ, phải lập ra các kho dự trữ miền cho các lương thực thô (ngũ cốc, dầu, đường), việc này có hai điều lợi: có thể bán các kho này với giá phải chăng trong trường hợp lên cơn sốt và các kho này có thể đóng vai trò điều hoà chống lại tính thất thường của giá cả địa phương.
“Nhà nước phát triển” đóng vai trò độc đáo và chủ yếu trong việc phát triển của một quốc gia và cùng với các thẩm quyền miền và quốc tế khác, người ta mong chờ nó điều hợp các kế hoạch thích đáng và có tính cách xây dựng. Thêm vào các nhiệm vụ vừa kể, trách nhiệm động viên các tài nguyên trong nước được coi như yếu tố chủ chốt để cấp nguồn tài chánh vững ổn cho các ưu tiên của chính phủ và các nhu cầu phát triển, vốn được nhận diện là trọng yếu. Đây là một trách nhiệm tẻ nhạt và phức tạp, nhất là tại các nơi không có khuôn khổ hay hạ tầng cơ sở căn bản để phát huy một mục tiêu như thế. Song song với các tài nguyên khác như FDI (Foreign Direct Investment = Đầu Tư Trực Tiếp Của Ngoại Quốc), ODA (Official Development Assistance = Trợ Giúp Phát Triển Chính Thức) và những khoản do các công dân địa phương làm việc ở ngoại quốc gửi về, các tài nguyên trong nước này đóng một vai trò chủ yếu trong bất cứ kế hoạch phát triển nào. Như các kế hoạch sau đây:

Các tập đoàn công ty : Sự hiện diện của các tập đoàn công ty tư trong các cộng đồng, các xã hội và quốc gia tiếp tục gia tăng và đang tác động sâu xa nơi chúng đặt bản doanh. Ảnh hưởng của các tập đoàn này đối với việc phát triển, tùy theo kích cỡ và đồ án, tại các cộng đồng địa phương và cùng khắp các khu vực ngoài xã hội, có thể rất đáng kể, nên cần được nhà nước theo dõi và lượng giá. Người ta cũng mong các tập đoàn này chu toàn các bổn phận của họ như những công dân lập hội tốt bằng cách nhớ rằng theo Đức Thánh Cha, “việc quản trị thương trường không thể chỉ quan tâm tới lợi nhuận của các sở hữu chủ, nhưng còn phải nhận trách nhiệm đối với tất cả những ai từng đóng góp cho sinh hoạt của thương trường: các công nhân, các khách hàng, các nhà cung cấp vật liệu sản xuất, cộng đồng tham khảo” (7).

Tài chánh tư và phát triển: Sự hiện diện của các định chế và tác nhân tài chánh tư, như các qũy cổ phần tư không tính lời và phòng hờ (private equity and hedge funds), tại các nước và miền trên khắp thế giới, cũng đang tiếp tục gia tăng. Nhờ việc liên tục mở rộng và tổng hợp mọi khía cạnh của hệ thống tài chánh hoàn cầu, sự hiện diện của các định chế và tác nhân này đem lại một số những thách đố độc đáo cho các nước LDC. Điều quan trọng là sự hiện diện trên phải giúp các nước này ở vào một vị thế có lợi; đồng thời phải đảm bảo là các hoạt động của mình có đóng góp vào việc phát triển lâu dài.

Một lần nữa, Đức GH Bênêđíctô XVI nhắc nhở mọi tác nhân trong lãnh vực này, nhất là các nhà đầu tư tại các nước LDC, rằng: “Điều nên tránh là việc sử dụng có tính đầu cơ đối với các tài nguyên tài chánh khiến người ta bị cám dỗ chỉ muốn tìm cái lợi ngắn hạn, mà không xem sét gì tới tính sống còn dài hạn của cơ sở, lợi ích của nó đối với nền kinh tế thực chất cũng như quan tâm một cách xứng hợp và thích đáng tới việc đẩy mạnh các sáng kiến kinh tế xa hơn tại các quốc gia đang cần phát triển. Quả thực, việc xuất cảng đầu tư và kỹ năng có thể đem lợi lại cho dân chúng của nước tiếp nhận. Lao công và kiến thức kỹ thuật là một thiện ích phổ quát. Ấy thế nhưng, sẽ không đúng chút nào nếu xuất cảng những thứ đó chỉ để có được những điều kiện hơn người, hay tệ hơn nữa, để bóc lột, không thực sự đóng góp cho xã hội địa phương để giúp họ có được một hệ thống mạnh về sản xuất và xã hội, một thành tố chủ chốt cho sự phát triển ổn định” (8).
Trong phần kết luận, Đức TGM Tomasi cho hay: Các nước LDC đang tiếp tục đương đầu với nhiều thách đố to lớn trong việc tìm tài nguyên và con đường phát triển cho các công dân của họ. Vẫn chưa có một công thức dễ dãi nào dẫn tới thành công nhưng hứa hẹn của tình liên đới có thể làm nền cho cam kết đổi mới nơi những người đang vật lộn với thách thức này cả hàng mấy thập niên qua và là mốc hướng dẫn cho các tác nhân mới trong lãnh vực này. Có rất nhiều vai trò và trách nhiệm chủ yếu khác nhau cho việc thực thi thành công diễn trình phát triển tại các nước kém mở mang nhất.

Bởi thế, Đức Thánh Cha đã dự ứng một chương trình hành động mới cho các nước LDC trong thập niên sắp tới. Nay là thời điểm để ta diễn dịch thành hành động cụ thể các cam kết đã được đưa ra trong những ngày này. Phúc lợi trong tương lai của các nước LDC tùy thuộc phần lớn vào tinh thần tặng dữ nhưng không (gratuitousness) hiện đang lên động lực cho các cố gắng của ta. Làm việc với nhau trong phương thức phối hợp và hợp tác, các định chế và tác nhân thuộc mọi khu vực có thể và phải nâng đỡ các cố gắng của các nước LDC trong việc đạt được các mục tiêu của họ trong tư cách là thành viên của cùng một gia đình nhân loại duy nhất.

Ghi chú
[1] Paul VI, Thông Điệp Populorum Progressio, số. 14
[2] Benedict XVI, Thông Điệp Caritas in Veritate, số 33.
[3] Ibid., số 23.
[4] Ibid., n. 7
[5] Ibid., no. 63
[6] Ibid.,
[7] Ibid., no. 34
[8] Ibid., no 40