Lời Dẫn Nhập:
Từ vài mươi năm trở lại đây, hay nói cụ thể hơn là từ sau công đồng Vatican II, Giáo hội đã có một cái nhìn chính xác và chân thực hơn về vai trò của người giáo dân, và đã biết trả lại cho người gíao dân vị trí và chức năng của họ sau nhiều thế kỷ bị quên lãng, bị bỏ rơi. Và cũng chính từ đó, Giáo hội nhận thấy rằng, công việc tông đồ không còn là một công tác đặc quyền của một vài thành phần ưu tuyển trong Giáo hội, nhưng là bổn phận của tất cả mọi tín hữu Chúa Kitô. Điều khẳng định này đã được Sắc lệnh “Tông đồ Gíao dân” [1] nêu rõ khi viết : “Giáo hội được khai sinh để làm cho Nước Chúa Kitô rộng mở trên khắp hoàn cầu, hầu làm vinh danh Thiên Chúa Cha: tức là làm cho mọi người tham dự vào việc chuộc tội và cứu rỗi; để nhờ họ, toàn thể vũ trụ thực sự được quy hướng về Chúa Kitô. Mọi hoạt động của nhiệm thể hướng về mục đích này gọi là việc tông đồ, công việc mà Giáo hội thực hiện nhờ bởi các chi thể, tùy theo cách thức khác nhau. Bởi đó, ơn gọi Kitô hữu, tự bản chất là ơn gọi làm tông đồ.
Giáo dân có bổn phận và có quyền làm tông đồ do chính việc kết hợp với Đức Kitô qua bí tích Rửa tội. Họ được thánh hiến vào chức vụ tư tế, vương giả và dân tộc thánh. Vì vậy, mọi tín hữu đều có bổn phận rất cao cả là hoạt động để khắp mọi người trên trái đất nhận biết và đón nhận Phúc âm cứu độ của Chúa” [2].
Để nhận hiểu được điều này, chúng ta cùng nhau ngược dòng thời gian để tìm hiểu và xác định lại chỗ đứng của người giáo dân trong suốt dòng lịch sử Giáo hội.
1. Vai trò và vị trí của người giáo dân trong Giáo hội:
a. Người giáo dân trong Giáo hội sơ khai:
Như chúng ta từng được đọc trong các sách Tân Ước, ngay từ những ngày đầu tiên, ngoài việc tuyển chọn 12 tông đồ, chính Chúa Kitô cũng đã chọn thêm 72 môn đệ và mời gọi nhiều phụ nữ cộng tác vào công trình cứu chuộc của Ngài (Lc 8,1-3). Rồi đến thời các Tông đồ, có nhiều tín hữu cộng tác với các ngài trong việc đem Tin Mừng cho các dân tộc khác như người Do thái, Roma, Hy lap… (Cv 11,19,21); và thánh Phaolo, trong các thư mục vụ của minh gởi cho các giáo đoàn, ngài cũng đã từng nêu đích danh nhiều người khác nữa (Col 1,7-8; Rm 16,4-6; Jac 2,24-26…)
b. Người giáo dân trong dòng lịch sử Giáo hội:
Trong suốt chiều dài lịch sử Giáo hội, dưới ảnh hưởng của triết học Platon [3] - cha đẻ của học thuyết “nhị nguyên” - người ta đã quan niệm và phân chia thế giới này thành hai phần, với một bên là thế giới thánh thiêng, linh nghiệm, siêu nhiên; và bên kia là cõi phàm tục.Và khi giáo lý của Giáo hội được truyền bá tới châu Âu , lúc ấy đang bị ảnh hưởng và chi phối bởi hệ thống triết lý và văn hóa Hy lạp, Giáo hội cũng bị ảnh hưởng và mặc nhiên nhìn nhận sự phân chia hai cấp đó trong đời sống của mình: cấp bậc trọn lành của hàng giáo phẩm, của những người đi tu; và cấp bậc của người đang sống đời thường : người giáo dân. Và từ đó, giáo dân được coi là những người ở dưới (từ ngũ hôm nay gọi là công dân hạng hai) chỉ biết lắng nghe, đón nhận và hầu như không có vai trò gì trong đời sống Giáo hội mà đoạn văn sau đây của Conrad de Vehedebour đã nói lên được não trạng này : “Giáo dân là đám dốt nát… họ cần được giảng dạy hơn là đi giảng đạo. Việc của họ là được hướng dẫn chứ không phải hướng dẫn, chỉ huy hay sang kiến. Lớp người này cần được các gíao sĩ cai trị; điều khiển là việc của bậc khôn ngoan, đừng có mà ra lệnh cho các bậc ấy” [4]. Hay như lời khẳng định của Giáo hoàng Pio X (2/6/1835–20/8/1914 ) trong Thông điệp Vehementer gởi nước Pháp có đoạn viết: “Do năng động riêng và bản chất của mình, Hội thánh là một xã hội bất bình đẳng; với hai hạng người, các chủ chăn và đàn chiên - Những người giữ chỗ trên các bậc thang giáo phẩm và những người tín hữu. Điểm phân biệt giữa hai hạng người này là chỉ trong bậc giáo phẩm mới có quyền và uy thế để thúc đẩy các thành phần trong Hội thánh tiến về cùng đích của Hội thánh. Còn đại chúng, nhiệm vụ của họ là để cho người ta cai quản; và như một bầy chiên ngoan, nhiệm vụ của họ là đi theo các mục tử”. Hay nói theo kiểu ngày hôm nay mà người ta vẫn đùa với nhau những câu nói đầy mĩa mai nhưng không kém phần đau xót khi nói về vai trò của người giáo dân trong Giáo hội khi xưa đại khái như là “Giáo dân sống trong Giáo hội chỉ làm có mỗi ba việc này : thứ nhất là thưa kinh, thứ hai là nói tiếng “dạ” và thứ ba là móc ví bỏ tiền vào nhà thờ…”
c. Người giáo dân theo Công đồng Vatican II :
Như một luồng gió mới, Chúa Thánh Thần đã thổi một luồng sinh khí thần linh để canh tân và cải tạo cho đời sống của Giáo hội, trong đó có đề cập nhiều đến vị trí và vai trò của người giáo dân
- Người giáo dân là ai?
Là những Kitô hữu, được tháp nhập vào thân thể Chúa kitô nhờ Phép Rửa tội, để trở thành Dân Thiên Chúa, và được tham dự vào các chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế của Chúa Ktô theo cách thức của họ. Họ là những người đang thực hiện sứ mạng của toàn dân Kitô giáo trong Giáo hội và trong trần gian theo cách thế riêng của mình (GH 31)
- Đặc tính và nhiệm vụ của người giáo dân:
Tính cách trần thế là tính cách riêng biệt và đặc thù của người giáo dân. “Vì là ơn gọi riêng, người giáo dân có bổn phận tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần gian, giữa những cảnh huống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội, tất cả những điều đó dệt thành cuộc sống của họ” (GH 31b). cũng cần phải nói rõ thêm vể nhiệm vụ của người giáo dân là soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và mở rộng theo ý Chúa Kitô, hầu làm vinh danh Thiên Chúa.
2. Người gíao dân và công tác tông đồ.
a. Nền tảng của việc tông đồ giáo dân:
Qua bí tích Rửa tội - như đã nói ở trên - người giáo dân được tham dự vào ba chức năng ngôn sứ, tư tế và vương đế của Chúa Kitô để thi hành những nhiệm vụ: - Loan báo tin Mừng cho muôn dân; - Thánh hóa nhân loại; - đem tinh thần Tin Mừng thấm nhuần và làm hoàn hảo công việc trần thế.
• Chức tư tế : Bằng kinh nguyện, bằng sự dâng hiến đời sống yêu thương và hoạt động của mình; bằng sự thông hiệp vào lễ tế của Chúa Kitô trên bàn thờ trong mỗi thánh lễ (Gh 34)
• Chức ngôn sứ : Là việc loan báo Tin Mừng bằng lời nói, bằng cuộc sống, bằng các hoạt động bác ái yêu thương nhằm cứu rỗi mọi người trong môi trường sống… (GH 35)
• Chức vương đế : Bằng việc tham dự vào việc điều khiển, khai thác và cải tạo vũ trụ để biến đổi và sử dụng mọi vật cho phù hợp với chương trình của Thiên Chúa, mở đường cho Hội thánh đi và rao giảng hòa bình (GH 36)
Thiết tưởng cũng nên nhắc lại một lần nữa ý tưởng đã nêu ở phần trên; đó là cần nhớ rằng, việc tông đồ là công tác của tất cả mọi kitô hữu chứ không phải là công việc ưu tuyển chỉ dành riêng cho một vài nhóm người như chủ để của Tông huấn Kitô hữu Giáo Dân : “Cả anh em nữa, anh em hãy vào làm vườn nho cho Thầy” ( Mt 20,3-4)
b. Mục tiêu chính yếu của việc tông đồ giáo dân:
Mục tiêu chính yếu của việc tông đồ là cứu rỗi nhân loại, trong đó bao gồm cả việc canh tân tất cả trật tự trần thế trong Chúa Kitô.
c. Phương thức họat động tông đồ giáo dân :
Mỗi người Kitô hữu, tự bản chất phải làm tông đồ, việc tông đồ này là kết quả của đời sống kitô hữu thực sự thấm nhuần đức tin, cậy, mến. Có hai phương thức họat động tông đồ của người giáo dân :
• Hình thức cá nhân:
- Bằng cuộc sống chứng tá của mỗi người trong môi trường sống của mình.
- Dùng lời nói rao giảng về Chúa Kitô cho mọi người.
- Mạnh dạn, trung thành tuyên xưng Chúa Kitô trong đời sống thường ngày
• Hình thức tông đồ tập thể:
Xã hội tính là bản chất của con người, chính Thiên Chúa đã quy tụ con người thành gia đình, thành dân Thiên Chúa, thành cộng đoàn những người tin trong tinh thần hiệp thông giữa mọi thành viên trong cộng đoàn đó. Do vậy, việc tông đồ trong Giáo hội không những chỉ là công việc cá nhân của từng tín hữu, nhưng còn mang chiều kích tập thể, cộng đoàn nữa. Kinh nghiệm cho thấy là trong lịch sử Giáo hội, khi làm việc tông đồ với tập thể, trong cộng đoàn, thì kết quả thu được sẽ phong phú và đạt được nhiều lợi ích hơn nhờ được hướng dẫn, có kế hoạch, và sự phối hợp hài hòa giữa các thành viên khi hoạt động từ đơn vị nhỏ nhất là các gia đình và liên gia (khu xóm, giáo khóm) rồi đến giáo xứ, giáo phận… với các hình thức được quy về thành ba loại như :
- Các hội đoàn nhằm mục đích loan báo Tin Mừng và thánh hóa trần thế bằng những phương thức đặc biệt là các cộng đoàn như Legio, Hiệp Hội Thánh Mẫu, các cộng đoàn Dòng Ba, Gia đình Phạt tạ…
- Những hội đàon nhằm mục đích Kitô hóa xã hội trần thế ; Pax romana, Hội giáo chức công giáo; nhóm Y, bác sĩ công giáo; Thanh Sinh Công, Thanh Lao Công…
- Các hội đoàn Kitô hóa nhân loại bằng việc từ thiện, bác ái: Hội Bác ái Vinh sơn, Hội Bảo trợ người phong, các nhóm trợ tang, Caritas…
d. Một tín hiệu đáng mừng và những điều cần lưu ý :
Dưới tác động của “luồng gió mới” mà Chúa Thánh Thần đã thổi bùng lên trong Giáo hội nhờ biến cố Công đồng Vatican II. Chúng ta nhận thấy là từ vài mươi năm trở lại đây, Giáo hội ngày nay đã có được những cái nhìn tích cực về người giáo dân và nhìn nhận những giá trị của các thực tại trần thế trong đời sống Giáo hội cũng như trong đời sống đạo đức và xã hội của người giáo dân. Những từ ngữ như vai trò của người giáo dân, việc hội nhập văn hóa, và giá trị tích cực của những thực tại trần thế… đã dần dần đi sâu vào trong các văn kiện của Giáo hội cũng như các thực hành sống đạo trong đời sống hàng ngày của Giáo hội.
Và thực tế cho thấy là từ nhiều năm nay, chỗ đứng của người giáo dân trong Giáo hội cũng như trong các sinh hoạt mục vụ của Giáo hội đã dần dà cải thiện và được khẳng định để đưa tới mức hòan thiện: người giáo dân tham gia nhiều hơn vào đời sống của Giáo hội khi nắm giữ và chia sẽ được nhiều phần việc của giáo xứ, giáo phận như việc dạy giáo lý, điều hành công việc trong xứ đạo, quản lý tài chính kinh tế, hiện diện trong các tổ chức, ban nghành của giáo xứ, giáo phận… Và tự bản thân, người giáo dân hôm nay ý thức rất rõ về trách nhiệm và vai trò của họ trong sự thịnh suy và làm phát triển Giáo hội của Chúa Kitô trong cuộc sống hôm nay.
Thế nhưng, xét kỹ hơn một chút, cúng ta vẫn còn thấy cách hành đạo và sống đạo của người tín hữu hôm nay - hình như - vẫn còn bị ảnh hưởng bởi thuyết nhị nguyên của Platon năm nào… hay nói một cách rõ ràng hơn, là nếp sống đạo của người giáo dân hôm nay vẫn còn bị phân chia và nhiều thiên lệch, vẫn còn giữ đạo theo kiểu một chiều: đó là nhiều khi lại quá nhấn mạnh đến phần thiêng liêng như chỉ lo cho Chúa, cho xứ đạo hay cho phần rỗi của các linh hồn… để rồi quên đi sự hiện diện “bằng xương bằng thịt” của những người thân cận quanh mình mà nhận định sau đạy có thể là một lời minh họa cho những điều vừa nói: “Tôi cho rằng cần phải nói lại chiều kích xã hội của Kitô giáo. Chắc chắn người ta từng nhấn mạnh tương quan cá nhân của mỗi người với Thiên Chúa, rồi tương quan giữa cá nhân với cá nhân; nhưng theo tôi, người ta ít khi đề cập đến chiều kích xã hội, đến khía cạnh “chính trị” của đức ái và việc dấn thân kitô giáo. Tôi nghĩ đó là một thếu sót nghiêm trọng, vì cho đến nay, người kitô hữu vẫn còn tham gia quá ít vào đời sống chính trị, vào các vấn đề ma túy, khiêu dâm, tương lai nghề nghiệp của giới trẻ, tình trạng thất nghiệp, tạo công ăn việc làm mới, cải đổi kinh tế… Quá nhiều kitô hữu đã coi các vấn đề ấy như không can dự gì tới Nước Trời, một số (người) Kitô hữu sốt sắng với các việc ấy thì lập tức bị coi là có khuynh hướng đi với mac-xit. Trái lại, tôi nghĩ; cần phải nói lại cho người kitô hữu rằng, họ phải luôn luôn xét lại việc dấn thân của mình trên nhiều bình diện khác nhau, và phải dám sống sứ điệp Tin Mừng của mình, nhất là Tám Mối Phúc Thật”.
Tôi xin diễn tả lại tư tưởng một cách vắn gọn là thời nay có hai sai lầm mà các kitô hữu có nguy cơ mắc phải nhiều nhất; một là xây dựng một thứ Kitô giáo phi nhập thể; hai là thứ Kitô giáo không có đức Kitô” [5]
Ở khía cạnh ngược lại - ngày hôm nay - người giáo dân chúng ta đang sống trong một xã hội tục hóa, mà ở đó sự thánh thiêng và niềm tin tôn giáo hầu như không còn chỗ đứng; nếu không muốn nói là một sự lạc điệu giữa lòng xã hội. Đồng thời sự tiêu thụ, cạnh tranh của nền kinh tế thị trường ra như cuốn hút người kitô hữu chúng ta vào trong vòng xoáy của nó, làm cho nếp sống đạo của nhiểu Kitô hữu có phần chểnh mảng, nguội lạnh, ngại dấn thân đóng góp, ít quan tâm đến việc chung, việc cộng đồng… và có khá hơn tí là họ giữ đạo cho đúng luật khỏi áy náy lương tâm là tốt rồi…
Thiết nghĩ, đã tới lúc chúng ta cũng cần phải gióng lên một hồi chuông thức tỉnh người giáo dân để họ ý thức hơn nữa về vai trò và vị trí của họ trong xã hội và trong thế giới hôm nay. Và theo thiển ý của người viết bài này, có lẽ hồi chuông đó chính là câu chủ đề của Tông Huấn Kitô Hữu Giáo Dân mà chúng ta đây đang luận bàn ““Cả anh em nữa, anh em hãy vào làm vườn nho cho Thầy” ( Mt 20,3-4)
3. Tạm kết luận:
Qua bí tích rửa tội, mỗi người tín hữu chúng ta được tham dự vào ba chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của Đức Kitô, để làm cho vũ trụ thực sự được quy hướng về Chúa bằng công tác tông đồ. Có như thế chúng ta mới làm nỗi rõ lên được ân sủng của Bí tích Rửa tội và Thêm sức mà chúng ta đã lãnh nhận, để tất cả mọi tín hữu của Chúa Kitô, bất luận thành phần, tuổi tác… đều góp phần cách tích cực nhất cho việc mở mang Nước của Thiên Chúa ở trần gian này.
Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống 2012
_______
[1] Ý tưởng chủ đạo của bài viết này được viết dựa theo Sắc lệnh “Tông đồ Gíao Dân”
[2] Sắc Lệnh Tông đồ Giáo dân số 2,3
[3] Platon , khoảng 427-347 TCN, là một nhà triết học cổ đại Hy Lạp được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều người coi ông là triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại cùng với Socrates là thầy ông.
[4] Th. Rey Mermet, Sống đức tin theo công đồng Vatican II, tập I Trg 212
[5] Đức Hồng y LJ Suenens, Thánh Thần, hơi thở sống động của Giáo hội, Định Hướng Tùng Thư 2003