Ngọn lửa đang tàn

Đến đây, Đức Tổng Giám Mục Chaput thuật lại câu truyện của Rôma cổ xưa. Nhà nước này có một biểu tượng thánh thiêng nhất, đó chính là bàn thờ dâng kính Nữ Thần Chiến Thắng. Bàn thờ này đặt tại Thượng Viện Rôma suốt hơn 400 năm. Nhưng năm 382, vị hoàng đế theo Kitô Giáo cho tháo gỡ bàn thờ này vì cho là thờ ngẫu tượng. Hai năm sau khi ông chết, thị trưởng ngoại đạo của Rôma là Quintus Aurelius Symmachus viết một lá thư đáng chú ý nhất thời hậu cổ đại (13) gửi lên hoàng đế tân lập cũng theo Kitô Giáo, yêu cầu dựng lại đền thờ trên. Nhưng không hẳn chỉ có thế, trong lá thư ông đưa ra lý chứng biện hộ cho một lối sống hoàn toàn khác. Ông cho rằng tháo gỡ bàn thờ là điều thiếu khôn ngoan và bất công. Ông ca tụng các vị hoàng đế trước đó về lòng khoan dung đối với việc duy trì tôn giáo cổ xưa và tài trợ các buổi cử hành ngoại giáo. Ông lý luận rằng việc thờ phượng các thần ngoại giáo của Rôma đã bảo vệ được kinh thành, khuất phục được thế giới và do đó xứng đáng được đối xử một cách tôn kính.

Ông nhấn mạnh rằng bàn thờ trên chắc chắn mang lại sự phù hộ của thần minh đối với thẩm quyền dân sự. Ông tha thiết viết như sau: “Bởi thế, chúng tôi yêu cầu để yên cho các thần minh của cha ông chúng tôi cũng như của xứ sở chúng tôi. Điều chính đáng là coi mọi việc thờ phượng như một. Chúng ta hết thẩy đều ngắm nhìn cùng các vì sao; bầu trời là của chung; quanh ta là một thế giới như nhau. Có gì khác đâu từ cố gắng của từng người đi tìm chân lý? Ta không thể đạt tới bí quyết ấy chỉ bằng một con đường… [cho nên] ta nên dâng lời cầu nguyện, đừng chống đối nhau”.

Ngày nay, đọc lại lời lẽ của Symmachus, ta không khỏi cảm thông với ông ta. Nhưng lúc ấy, không ai nghe lời lẽ của ông. Kitô hữu lúc đó đã vượt xa người ngoại đạo về số lượng, ngay tại Rôma. Thánh Ambrose của Milan, một trong các giáo phụ La Tinh vĩ đại của Giáo Hội, đã viết một bản trả lời hết sức mạnh mẽ, đánh bại lý lẽ của Symmachus. Do đó, bàn thờ kia không bao giờ được dựng lại. Chủ nghĩa ngoại đạo dần dần lui vào dĩ vãng.

Lý lẽ của Symmachus khá vững. Nhưng ông lý luận từ tư thế yếu, cái yếu của lòng hoài cổ muốn lập lại những gì xưa cũ đang sắp sửa qua đi, cái yếu của các nghi lễ tôn giáo lúc đó đã không còn năng lực, cái yếu của van xin để tiếng nói mình được nghe, thay vì đòi hỏi hay chinh phục một chỗ đứng trong tâm hồn con người, nhờ lòng nhiệt tâm của hành động tôn giáo và sức mạnh của chứng tá tôn giáo.

Ngọn lửa bừng cháy

Không ai nghe Symmachus vì không ai lưu tâm đến ngọn lửa đang tàn. Trái lại ai cũng phải chú ý tới ngọn lửa đang bừng cháy, nhất là đang bừng cháy trong tâm hồn người khác. Và điều này đem ta tới trọng điểm của điều Đức TGM Chaput muốn nói. Chúa Giêsu từng phán rằng: “Ta đến đem lửa ném vào trần gian, và Ta mong lửa ấy bừng cháy lên!” (Lc 12:49).

Theo Đức TGM Chaput, lời của Chúa Kitô trên đây được phần lớn người Mỹ trong lịch sử Hoa Kỳ biết tới và hiện vẫn còn ý nghĩa đối với cung cách họ tổ chức cuộc sống. Hoa Kỳ chưa bao giờ là một quốc gia Kitô Giáo, nhưng điều đó không cần thiết, vì đời sống công và các định chế dân sự của nó vốn được thông tri một cách sâu sắc bởi tư tưởng và ngôn ngữ cũng như luân lý Thánh Kinh. Điều còn quan trọng hơn nữa là đa số người dân Hoa Kỳ là Kitô hữu; phần đông coi trọng đức tin của mình; và rất nhiều người cố gắng sống đức tin ấy, đến độ khiến Alexis de Tocqueville phải thán phục khi thuật lại việc thờ phượng của họ trong ngày Chúa Nhật (14).

Nhưng đó là chuyện của ngày qua, lúc Kitô hữu cảm thấy nước Mỹ như nhà mình, nơi đã được các Kitô hữu định cư trước nhất và chủ yếu do họ xây dựng trong ba thế kỷ đầu. Còn những năm gần đây, giống Bàn Thờ Nữ Thần Chiến Thắng, Thiên Chúa càng ngày càng ít được chào đón giữa lòng sinh hoạt chung. Bởi thế, chẳng bao lâu nữa, Kitô hữu sẽ thấy mình rơi vào thân phận Symmachus, phải lý luận từ bên lề.

Trong vài thập niên tới, nước Mỹ sẽ trở nên ít thân thiện đối với đức tin Kitô Giáo hơn bất cứ thời nào trong lịch sử của nó. Và điều đó sẽ đặt ra một thách thức thật lớn đối với người Công Giáo. Hiện nay, lời tiên đoán này vẫn còn bị coi là quá mạnh, không thuyết phục được ai. Vì gốc rễ của kinh nghiệm Mỹ vốn bám sâu vào Thệ Phản. Niềm tin vào Thiên Chúa vẫn còn giúp người ta lên khuôn các điều họ tin về con người. Và chính điều họ tin về con người đã tạo khung cho sinh hoạt quốc gia. Theo truyền thống, đức tin Kitô Giáo vốn là nền tảng cho sự nhất trí cao của người Mỹ về luân lý. Sự nhất trí ấy hướng dẫn chính sách xã hội và luật pháp của Hoa Kỳ.

Đã đành, Thiên Chúa không được Hiến Pháp nhắc tới, nhưng không phải vì Người không được hoan nghinh. Thực vậy, Người thẩm thấu toàn bộ diễn trình lập hiến. Gần hết các nhà lập quốc là tín hữu tôn giáo, đa phần là Kitô hữu, và một số hết sức sùng đạo. Các công trình của họ chịu ảnh hưởng không những của Phong Trào Ánh Sáng mà còn của di sản Thánh Kinh Do Thái và Kitô Giáo.

Trên thực tế, nói theo Daniel Boorstin, John Adams và các đồng nghiệp lập quốc của ông đều là những người có tâm trí hợp tuyển và bảo tàng (a miscellany and a meseum), tức những người có khả năng tổng hợp cũ và mới, đức tin của Kitô giáo và các lý tưởng của Ánh Sáng, mà không phá hủy điều gì (15). Các nhà lập quốc này coi đức tin tôn giáo như một điều tách biệt đối với chính quyền nhưng có tính sinh tử đối với lẽ sống còn của đất nước. Trong Diễn Văn Từ Giã, Washington nhấn mạnh rằng “tôn giáo và luân lý là hai hỗ trợ không thể thiếu” đối với sự thịnh trị. Ông nói thêm: “lý trí và kinh nghiệm đều ngăn cấm ta không được nghĩ rằng loại bỏ nguyên lý tôn giáo, nền luân lý quốc gia vẫn có thể bền vững”. Đối với John Jay, James Wilson, Alexander Hamilton, Charles Carroll, John Adams, George Washington, và hầu hết các nhà lập quốc khác, kể cả Thomas Jefferson và Benjamin Franklin, tôn giáo tạo ra các công dân đức hạnh. Và chỉ có các công dân đức hạnh mới duy trì được đất nước để nó cân bằng trong định chế, trong nhậy cảm luân lý, và trong luật pháp.

Địa bàn đang thay đổi

Kinh nghiệm Mỹ, một xã hội dân chủ, không bè phái, được một thế giới quan và một ngôn ngữ luân lý ngấm ngầm Kitô Giáo nâng đỡ, đã thành công trong suốt gần 200 năm. Bất chấp cái phả hệ Thệ Phản và các thiên kiến đi đôi với nó, nước Mỹ vẫn mềm dẻo đủ để dành đất đứng cho người Công Giáo; và người Công Giáo ở đây quả đã có thể và thực sự phát triển rực rỡ. Thực vậy, họ hiện lập thành cộng đồng tôn giáo lớn nhất Hiệp Chúng Quốc. Họ đang phục vụ đông đảo tại Quốc Hội. Họ chiếm đa số tại Tối Cao Pháp Viện. Họ giữ các địa vị chỉ huy trong doanh nghiệp và chuyên nghiệp.

Nghe thì quả đáng nể. Vần đề là: việc ấy càng ngày càng không có ý nghĩa bao nhiêu nữa. Gần 80 phần trăm người Mỹ vẫn tự nhận là Kitô hữu. So với tiêu chuẩn Âu Châu, thực hành tôn giáo tại Mỹ vẫn còn cao. Nhưng địa bàn tôn giáo của Mỹ đang thay đổi. Một phần tư người Mỹ tuổi từ 18 tới 29 hiện không còn thuộc bất cứ tôn giáo nào nữa. Theo Nhóm Barna và nhiều cuộc nghiên cứu khác, những người Mỹ này còn cho thấy “một mức chỉ trích gay gắt đối với Kitô Giáo hơn hẳn các thế hệ trước cùng cỡ tuổi với họ. Quả thực, chỉ trong một thập niên… hình ảnh Kitô hữu đã đi xuống một cách đáng kể, một phần vì giới trẻ tỏ ra chán nản, muốn rút chân ra” (16).

Thế hệ trẻ đó đang sắp sửa thừa hưởng quyền lãnh đạo quốc gia trong thập niên tới. Vậy mà, như Christian Smith và các đồng nghiệp của ông từng cho thấy, thế hệ đang lên đó không hề bao giờ lo lắng thảo luận các nan đề về luân lý; nhiều người trong số họ còn không biết gì tới các nguyên lý tôn giáo, từng giúp người ta đưa ra các quyết định luân lý khó khăn; phần lớn những người này không được đào luyện thích đáng về luân lý (17).

Sự mất mát của Công Giáo được che đậy phần nào nhờ di dân Châu Mỹ La Tinh. Nhưng dù 31 phần trăm người Mỹ cho rằng mình được dưỡng dục trong đức tin Công Giáo, nhưng không tới 24 phần trăm người Mỹ tự mô tả mình là người Công Giáo.

Việc mất đi một khối quần chúng Kitô hữu chủ yếu như trên khỏi đời sống Mỹ đã đem lại nhiều hiệu quả. Chỉ xin kể một trường hợp hiển nhiên: các nhóm thiểu số về tính dục hiện đang thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước và các phương tiện truyền thông để đánh đổ các định nghĩa truyền thống về hôn nhân và gia đình. Và họ thường chỉ gặp một phản kháng tẻ nhạt hay vô tổ chức; mà phản kháng này lại bị giới truyền thông tường thuật một cách phiến diện, đầy tiêu cực nữa.

Trong những năm tới, càng ngày ta càng thấy khuynh hướng trên nhiều hơn, song song với mưu toan của nhà cầm quyền dân sự muốn can thiệp vào đời sống của cộng đồng tín hữu nhân danh quyền lợi cá nhân. Ta cũng sẽ thấy càng ngày các định chế tôn giáo càng có ít không gian tự do hơn để thi hành các công trình của mình nơi công cộng. Hiện đang xẩy ra nhiều vụ nhà nước gây áp lực nặng nề lên các bệnh viện và cơ sở nhận con nuôi của Công Giáo, nhiều vụ kiện nhằm tấn công vào phạm vi của tự do tôn giáo, nhiều hạn chế của liên bang đối với quyền lương tâm, nhiều cuộc tấn công đối với các khoản trừ thuế cũng như tư cách miễn thuế dành cho tôn giáo, và trực tiếp can thiệp vào việc thuê các dịch vụ của các cơ quan như Cơ Quan Bác Ái Công Giáo. Thành thử không phải là vô cớ khi các vị giám mục Hoa Kỳ thiết lập ra ủy ban đặc biệt về tự do tôn giáo vào năm ngoái. Tự do tôn giáo xưa nay vốn là điều người Mỹ lo lắng cho các nước khác. Nhưng nay, nó trở thành mối lo của chính họ.

Vấn đề là: tại sao một nước Mỹ của Tocqueville, nơi “sinh hoạt thương mại và kỹ nghệ dường như ngưng lại [và] mọi ồn ào đều lắng dịu” vào ngày Chúa Nhật lại rơi xuống hàng một nước Mỹ, nơi, nói theo lời Pascal Bruckner, người ta trở thành những tên nô lệ cho con thuyền khoái lạc, một nước Mỹ của tiêu thụ điên cuồng và của tính dục bừa bãi, nơi “ý định là đem lại tự do mà kết kết quả chỉ là quảng cáo; nơi điều được giải thoát không hẳn là thèm khát tính dục cho bằng thèm khát được mua bán không hạn chế”? (18). Nên nhớ Bruckner không phải là một nhà giảng thuyết nhiệt tình, ông chỉ là một người hoài nghi Pháp hoàn toàn thế tục, ông chỉ nói những gì ông thấy tận mắt.

Nhưng thực ra, các vấn để của nước Mỹ phát sinh và sống song song với các đức hạnh của nó. Theo một nghĩa nào đó, các vấn đề và đức hạnh này phát sinh từ cùng một hạt giống. Nền thần học Thệ Phản và tư tưởng Ánh Sáng vốn đề cao tầm quan trọng của cá nhân. Chính hai nhân tố ấy đã nuôi dưỡng một chủ nghĩa cá nhân đầy tác hại và một lòng thù ghét đối với bất cứ thẩm quyền tôn giáo nào bên ngoài quyền tối thượng của lương tâm bản thân.

Kết quả là: không có sự kiềm chế của một đồng thuận luân lý do một cộng đồng tôn giáo sống động lên sinh khí và lo bảo vệ, tự do cá nhân sẽ dễ dàng trở thành giấy phép để người ta sống vị kỷ. Ý nghĩa đúng sai sẽ được tư hữu hóa, xã hội chỉ còn là một tập hợp các cá nhân lẻ tẻ mà các thèm khát và nhu cầu được điều hòa bởi một dự án duy nhất họ có chung đó là nhà nước.

Tocqueville coi công luận là nhân tố dễ gây tác hại cho dân chủ. Thực thế, theo lý thuyết, trong một nền dân chủ, mỗi cá nhân là thẩm quyền luân lý tối hậu cho chính mình. Nhưng thực tế không đúng như vậy. Các cá nhân này nhanh chóng nhận thấy mình cô lập và thiếu hiểu biết trong tư cách cá nhân. Thiếu một cộng đồng tôn giáo vững mạnh yểm trợ, họ có khuynh hướng muốn trao phó tư duy bản thân cho công luận. Và vì công luận rất dễ bị thao túng, nên sinh hoạt dân chủ bị khuynh đảo.

Đó là lý do khiến các nhà lập quốc Hoa Kỳ coi tôn giáo là điều quan trọng đối với sự lành mạnh của đời sống công. Vì đức tin tôn giáo tạo nên một khuôn khổ luân lý vững bền cho cuộc tranh luận chính trị và đào tạo ra các công dân có giáo dục về luân lý để điều hành guồng máy quốc gia. Có điều, tôn giáo không sống còn nhờ tính hữu dụng xã hội. Người ta không sống theo một sứ điệp chỉ vì sứ điệp này hữu dụng. Họ sống sứ điệp ấy vì họ tin nó đúng và do đó đem lại sự sống cho họ.

Chính người Kitô Giáo

Điểm được Đức TGM Chaput nhấn mạnh là: cái nước Mỹ đang xuất hiện, tức nước Mỹ ngu dốt hay có thái độ ngờ vực đối với tôn giáo nói chung và đối với Kitô Giáo nói riêng kia, không nên làm ta ngạc nhiên. Vì tuy là nước Mỹ mới, nó vẫn là sản phẩm của Mỹ. Ta thường hay đổ lỗi, cho rằng chính truyền thông đại chúng, hay giới học thuật, giới khoa học, hoặc các nhóm đặc quyền đã tạo ra môi trường hiện nay. Nhưng thực ra, các Kitô hữu, trong đó, có người Công Giáo, cũng đã góp tay vào đó bằng chính sự thèm khát muốn được có mặt trong đó, bằng những sao lãng, những quá tự phụ và bằng đức tin lạnh nhạt của mình.

Quá nhiều người tự nhận là Kitô hữu nhưng không hề biết Chúa Giêsu Kitô. Họ thực sự không tin vào Tin Mừng. Họ thấy bối rối, xấu hổ vì tôn giáo của mình. Có giữ đạo chăng nữa, họ cũng cho là để yên chuyện. Hoặc sẵn sàng điều chỉnh đạo theo mức hoài nghi của mình. Những điều đó không thay đổi đời họ, vì chúng không có thực. Và vì không có thực, chúng không đem lại hiệu quả biến đổi nào đối với tác phong bản thân, không đem lại bất cứ sức mạnh xã hội nào, bất cứ hậu quả công cộng nào. Một đức tin như thế giống hệt tôn giáo từng được Symmanhus tiếc nhớ. Dù tôn giáo ấy trước đây có như thế nào, nay nó cũng đã chết thật rồi.

Như vậy thì tín hữu, và nhất là tín hữu Công Giáo, phải làm gì trước tình thế trên? Theo Đức TGM, nếu còn sống, chắc chắn Cha John Murray sẽ cho rằng người Công Giáo có thể đem lại cho nước Mỹ sức mạnh luân lý và sự sâu sắc trí thức mà Chủ Nghĩa Thệ Phản từng đánh mất. Đúng vậy. Cha Murray chưa bao giờ quên các thiếu sót trong hệ thống chính trị hay trong nhân cách phân lập (split personality) lúc lập quốc. Nhưng niềm hy vọng của ngài đối với các tiềm năng của kinh nghiệm Mỹ là niềm hy vọng chính đáng.

Vì ta là người tạo ra tương lai, chứ không ngược lại. Không có gì trên trần thế này là tất yếu, ngoại trừ chiến thắng của Chúa Giêsu Kitô; điều này đúng cho cả những gì lịch sử sẽ nói về đặc điểm của đất nước mang tên Hoa Kỳ. Suốt những năm tháng phục vụ trong tư cách giám mục, Đức Cha Chaput từng gặp hàng nghìn, nghĩa là nhiều lắm, các thanh thiếu niên rực lửa yêu mến Chúa Giêsu Kitô và hoàn toàn dấn thân cho niềm tin Công Giáo. Họ tụ tập nhau trong các phong trào hay dự án nhằm đem lại cho lòng khát khao Chúa của họ một sức mạnh thực sự: đó là Hiệp Hội Sinh Viên Đại Học, đó là Hiệp Thông và Giải Phóng, đó là Đường Tân Dự Tòng, đó là Phong Trào Sinh Hoạt Kitô Giáo, và rất nhiều hình thức tông đồ mới của Công Giáo.

Những người trẻ Công Giáo trên không đơn độc. Người ta thấy họ hàng trăm hàng nghìn trên mọi nẻo đường đất nước. Nhưng họ cần một thứ lãnh đạo và một thứ giáo dục có thể tỏa sáng sự vững tin vào Lời Chúa, lòng trung thành với đức tin Công Giáo, và lòng nhiệt tâm truyền giáo nhằm làm mới mọi sự trong Chúa Giêsu Kitô, kể cả nơi công cộng.

Tuy nhiên, hình như Cha Murray không đọc được cái nôn nóng của người Công Giáo muốn có chỗ đứng trong cái giòng chẩy chính của Mỹ vì cảm thấy đau lòng trước mặc cảm tự ti về xã hội của mình. Và cha đã không sống tới lúc thấy những vấn đề ấy sẽ dẫn tới đâu.

Ngày nay, thay vì người Công Giáo cải đạo văn hóa, thường là văn hóa tẩy hết cái nhiệt tâm tông đồ nơi người Công Giáo trong khi chỉ để lại nơi họ cái nhãn hiệu đơn thuần mà thôi. Dĩ nhiên có những luật trừ, nhưng cho đến nay, những luật trừ này không đủ nhiều để thay đổi tình thế. Chính vì thế, số lượng đông đảo người Công Giáo trong giới lãnh đạo kinh tế và chính trị tại Mỹ vẫn chỉ tạo được rất ít tác dụng đối với hướng đi của đất nước. Điều này cũng thấy rõ trong ngành giáo dục cao đẳng Công Giáo, là ngành lãnh trách nhiệm giáo dục và đào tạo thế hệ lãnh đạo Công Giáo sắp đến.

Nền giáo dục cao đẳng Công Giáo

Người ta không thể đọc lại Tuyên Ngôn Land O’Lakes năm 1967 về bản chất đại học Công Giáo hiện đại mà không chú ý tới việc từ ngữ Đức Tin đã hoàn toàn biến mất khỏi tài liệu này. Thực vậy, tài liệu này là một bản tuyên ngôn độc lập, tự tách mình ra khỏi mọi quyền bính nào không phải là cộng đồng đại học (19). Điều này không có gì đáng nói đối với một định chế thế tục. Nhưng quả là lạ khi một cộng đồng học thuật vốn cam kết phục vụ cả đức tin lẫn lý trí, mà thực sự lại không muốn làm thành phần của truyền thống Công Giáo sống động.

Việc họ xa rời căn tính Công Giáo, lẽ dĩ nhiên, có nhiều nguyên do. Một trong những nguyên do đó là việc suy giảm nhân viên Công Giáo trong hàng ngũ giảng dạy. Nguyên do khác là sự sống còn về kinh tế. Nhưng nguyên do đáng buồn nhất là nhiều giới chức đại học bất mãn với một truyền thống học thuật bị họ coi là cũ mèm và thô sơ trong một thời đại khoa học tân tiến (20).

Không gì sai lầm bằng, vì nguyên do đó đang cướp đi kho tàng khôn ngoan, đầy sáng tạo và hy vọng khỏi tầm tay các nhà lãnh đạo Công Giáo sắp tới. Nét thiên tài của nền giáo dục cao đẳng Công Giáo là một cái học xây dựng trên sự liên lập giữa đức tin và lý trí. Chí ít, nó cũng nhất quyết không tách việc đào tạo trí thức khỏi việc đào tạo luân lý vì hai việc đào tạo này liên kết chặt chẽ với nhau, không thể tách biệt được. Nó đặt ưu tiên trên các môn học nhằm hướng dẫn việc tạo ra một cái nhìn toàn diện về thực tại, cả triết học lẫn thần học. Nó giúp tạo ra một nền văn hóa Kitô Giáo và giải thích rõ nền văn hóa này phải như thế nào trong việc làm triển nở con người. Nó đưa lại một nền nhân học gắn bó coi con người như một toàn bộ và thực sự đem ý nghĩa lại cho thuật ngữ “nhân phẩm” thay vì biến thuật ngữ này thành khẩu hiệu trống rỗng cho dịch bản cuối cùng của chủ nghĩa cá nhân. Nó giúp con người tắm gội trong đức hạnh và biết trân quí cả thực tại vật chất lẫn thực tại tinh thần của nhân loại, tức thế giới hữu hình và thế giới vô hình, những thế giới chỉ có sự sống khi tin vào Chúa Giêsu Kitô.

Nói cách khác, nền giáo dục cao đẳng Công Giáo là người thừa kế gia tài trí thức, luân lý, và văn hóa vĩ đại nhất trong lịch sử con người. Nó giải đáp thoả đáng cho câu hỏi con người là ai và tại sao. Nó đẹp vì nó đúng. Nó không có gì để ta phải bối rối, trái lại, nó có đủ lý do để ta bừng cháy lòng tin tưởng và nhiệt thành tông đồ. Ta chỉ tự đánh bại mình, và chắc chắn không phụng sự Thiên Chúa chút nào, nếu ta cho phép mình nghĩ cách khác.

Kinh Thành Con Người và Kinh Thành Thiên Chúa

Thánh Augustinô nhắc ta nhớ rằng Kinh Thành Con Người và Kinh Thành Thiên Chúa hòa lẫn với nhau. Ta có trách nhiệm với cả hai. Tuy nhiên, quê hương sau cùng và tư cách công dân thực sự của ta không ở đời này. Chính trị là điều quan trọng, nhưng không bao giờ là tập chú chính hay mục tiêu chính của đời sống người Kitô hữu. Nếu ta không biết và yêu mến Chúa Giêsu Kitô, và cam kết đời ta với Người, và hành động theo niềm tin của ta, mọi sự chỉ là trống rỗng. Nhưng nếu ta thực hiện các điều trên, thì mọi sự khác đều có thể, kể cả việc cải đạo thế giới chung quanh. Câu hỏi duy nhất đáng lưu ý với tất cả chúng ta là câu hỏi Chúa Giêsu đã hỏi các tông đồ của Người: “Các con bảo Thầy là ai?” (Mc 8:29). Mọi sự đều phụ thuộc câu trả lời cho câu hỏi này. Đức tin dẫn ta theo một hướng, thiếu đức tin sẽ dẫn ta đi hướng khác. Vấn đề là đức tin, lúc nào và ở đâu cũng thế, bất kể bạn là học giả, là bác sĩ, là linh mục, là luật sư hay thợ máy. Ta có thực sự tin Chúa Giêsu Kitô hay không? Nếu tin, ta sẽ làm gì với đức tin ấy?

Một đời sống thực sự Công Giáo phải nuôi dưỡng được cả linh hồn và tâm trí; phải đem lại một tầm nhìn biết coi con người như được tình yêu Thiên Chúa làm nên hoàn hảo, hiểu biết tạo thế và các thực tại vô hình; phải giúp ta thấy được vẻ đẹp của thế giới dưới ánh sáng vĩnh cửu; và phải giúp ta nắm bắt lại nét thanh cao của lịch sử nhân bản và phẩm giá con người.

Đó chính là thứ chứng tá sẽ làm bừng cháy trái tim con người. Chỉ có nó mới khởi diễn được cuộc cách mạng duy nhất có thể thay đổi mọi sự: đó là cuộc cách mạng của tình yêu. Chúa Giêsu từng phán rằng “Ta đến để ném lửa vào trần gian và Ta mong lửa ấy bừng cháy lên”. Nhiệm vụ của ta là đốt lên ngọn lửa ấy và giữ cho nó mãi bừng cháy.

Ghi Chú
(13) “The Memorial of Symmachus, Prefect of the City” trích từ Letter of St. Ambrose,dựa theo H. De Romestin, dịch trong Library of Nicence and Post Nicene Fathers, 2nd series, vol. 10 (New York: 1896), Internet Medieval Source Book, http://www.fordham/edu/halsall/source/ambrose-sym-asp.
(14) Alexis de Tocqueville, Democracy in America, dịch và hiệu đính bởi Harvey C. Mansfield and Delba Winthrop (Chicago: University of Chicago Press, 2000), tr. 517.
(15) Daniel j. Boorstin, America and Image of Europe: Reflections on American Thought (Gloucester, MA: Peter Smith, 1976) tr.70.
(16) Xem hậu cảnh của Barna Group tại http://www.barna.org/teens-next-gen-articles/94-a-new-generation-expresses-its-skepticism-and-frustration-with-Christianity và dữ liệu của Pew Research Center tại http://www.pewresearch.org
(17) Christian Smith và nhiều người khác, Lost in Transition: The Dark Side of Emerging Adulthhod (New York: Oxford University Press, 2011)
(18) Pascal Bruckner, Perpetual Euphoria: On the Duty to Be Happy (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2010) các tr.47 và 66.
(19) Trích trong Neil G. McCluskey, S.J., The Catholic University (Notre Dame, IN: University of Notre Dame Press, 1970).
(20) Xem James Tunstead Burtchaell, C.S.C., The Dying of the Light: The Disengagement of Colleges and Universities from Their Christian Churches (Gran Rapids, MI: Wm.B. Eerdmans, 1998); và Philip Gleason, Contending with Modernity: Catholic Higher Education in he Twentieth Century (New York: Oxford University Press, 1995).