Sống Đạo

Thân tặng anh chị em dự tòng Sydney

Được sự cho phép của Thầy Lợi, tôi xin có mấy lời với quí anh chị về việc sống đạo, qua ba đề mục: biết, thờ và mến.

Thực ra, biết, thờ, mến là tựa đề của Bộ Sách Giáo Lý bằng tiếng Anh (To Know, Worship and Love) hiện được dùng trong các trường Công Giáo của ít nhất hai tổng giáo phận Sydney và Melbourne. Ban Truyền Giáo chúng tôi đã chuyển bộ giáo lý này, gồm 13 cuốn, sang tiếng Việt và dựa vào bản dịch này để soạn ra Bộ Giáo Lý Biết Thờ Mến, gồm 11 cuốn, dùng trong chương trình giáo lý của phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể của Cộng Đồng.

Dĩ nhiên ở đây, tôi không cố ý trình bày nội dung bộ giáo lý này, cho bằng mượn tên của nó để nói ít điều về việc sống đạo của quí anh chị em dự tòng.

I. Biết

1. Đức tin cứu con

Điều quan trọng nhất trong việc sống đạo là tin. Hẳn quí anh chị em đã được Thầy Lợi giúp nắm vững điều này: chúng ta được cứu rỗi là nhờ đức tin, chứ không nhờ điều gì khác. Chính Chúa Giêsu khi chữa lành người ta cũng nhấn mạnh điều ấy. Hẳn quí anh chị em còn nhớ đoạn Tin Mừng Thánh Matthêu nói về người đàn bà bị băng huyết đã 12 năm, được Chúa chữa khỏi. Ai còn nhớ câu Chúa Giêsu nói với bà khi bà lẻn đến rờ vào tua áo của Người? “lòng tin của con đã chữa con” (Mt 9:22).

Rồi đoạn khác (Mt 15:28) nói về người đàn bà có đứa con gái bị quỉ ám xin Chúa chữa nó, nhưng bị Người làm ngơ, bèn đi theo tiếp tục năn nỉ. Chúa thử lòng bà ta, mới nói kháy: không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con. Đố ai biết, bà già này đáp lại ra sao không? “thưa ngài đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Chúa phục bà, bèn nói sao? “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy”!

Xin kể câu truyện thứ ba trích từ Tin Mừng Thánh Máccô (Mc10:52) nói về người mù Thành Giêricô, ngồi bên vệ đường, nghe Chúa Giêsu đi ngang qua, lớn tiếng xin Người cứu giúp. Người gọi anh ta tới, hỏi anh muốn Người làm gì cho anh, anh ta đáp: xin cho con được nhìn thấy. Và Chúa Giêsu đã nói gì với anh ta? “lòng tin của anh đã cứu anh” và anh ta nhìn thấy!

Chính vì thế, Thánh Phaolô, trong thư Rôma (10:10), tuyên bố rằng: “Có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ”.

2. Tin là gì?

Chữ “tin” được sử dụng nhiều cách khác nhau. Đây là một số thí dụ:

* Tôi tin đội Swans của Sydney sẽ thắng giải AFL năm nay.
* Tôi tin thầy giáo sẽ cho tôi thêm giờ làm bài.
* Tôi tin tôi sẽ thắng cuộc thi đua ấy.

Qua đó, ta thấy “tin” có thể có nghĩa “hy vọng”, “nghĩ” hay “theo ý kiến tôi”. Dù dùng thế không hoàn toàn chính xác, nhưng người ta quen dùng như thế rồi.

Những lúc khác, ta dùng chữ “tin” theo nghĩa sâu sắc hơn. Như khi ta nói: ta tin một ai đó, trường hợp này “tin” nghĩa là “tin tưởng” (trust). Ta gắn bó với và xác nhận các tài năng nơi người khác. Sau đây là một số thí dụ:

* Tôi tin anh và tin rằng anh có thể đạt các mục tiêu của anh.
* Tôi tin vào tình yêu của gia đình tôi dành cho tôi.
* Tôi tin khả năng công bình và khoan dung của người Úc.

Nhiều lúc khác, ta dùng chữ “tin” để diễn tả điều gì đó được ta nắm giữ như là sự thật. Đây là một số thí dụ:

* Tôi tin cuộc đời có ý nghĩa.
* Tôi tin có sự sống ở đời sau.
* Tôi tin mọi người bình đẳng.

Lại có những lúc ta dùng chữ “tin” để diễn tả niềm tin của ta vào một con người. Đây là niềm tin của ta vào con người ấy. Nó phát xuất từ chứng tá họ đưa lại, từ cách họ sống đời sống họ. Đây là một vài thí dụ:

* Tôi tin mẹ tôi.
* Tôi tin đứa trẻ.
* Tôi tin Chúa.

Các niềm tin như trên đem lại ý nghĩa cho đời sống. Chúng nâng đỡ người ta qua những giờ phút dù khó khăn nhất, và có khi người ta còn sẵn sàng chịu đau và chịu chết cho những niềm tin họ nắm giữ. Như Martin Luther King chẳng hạn, đã tin chắc chắn vào sự bình đẳng giữa mọi chủng tộc, đến nỗi đã hiến đời mình để truyền giảng niềm tin ấy và cuối cùng đã chết vì niềm tin này. Thánh Maria MacKillop tin mạnh mẽ rằng mọi trẻ em đều có quyền được giáo dục, đến độ đã hiến đời mình lập các trường học cho con cái nhà nghèo. Những niềm tin sâu sắc như thế tác động mạnh trên các hành vi và các lựa chọn của ta.

3. Niềm tin tôn giáo

Các tôn giáo đều có các tín điều. Một vài thí dụ nổi tiếng là

* Mohammad là tiên tri của Allah (Hồi giáo)
* Sau khi chết, mọi loài đều tái sinh dưới hình thức khác (Ấn độ giáo)
* Qua thiền niệm, người ta có thể đạt tới niết bàn [nirvana] (Phật giáo)

Phần lớn các tín điều của Công Giáo được gồm tóm trong Kinh Tin Kính Nixêa sau đây:
Tôi tin kính một Thiên Chúa
Là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình.
Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, Sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời.
Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng,Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật,Được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha.
Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành; vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế.
Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người.
Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng tôi, chịu khổ hình và mai táng thời Phôngxiô Philatô.
Ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh, Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha.
Và Người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng.
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần, là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống; Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra. Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.
Tôi tin có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Tôi tuyên xưng có một phép rửa để tha tội. Tôi trông đợi kẻ chết sống lại. Và sự sống đời sau.Amen
.

Gọi là Kinh Tin Kính Nixêa vì kinh trên do Công đồng chung thứ nhất của toàn thể Giáo Hội, nhóm họp tại Nixêa, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, giữa các tháng Năm và 8 năm AD 325, soạn ra. Nó chứa những điều được Giáo Hội Công Giáo coi là chân thực một cách sâu xa và vĩnh viễn liên quan đến Thiên Chúa, đến đời người, và đời sau. Chúng là những ý niệm then chốt quanh đó trọn bộ Đạo Công Giáo chuyển xoay, và là những ý niệm được các tín hữu ủng hộ bênh vực. Nhiều Kitô hữu giữ vững niềm tin của mình đến độ sẵn sàng hy sinh mạng sống mình hơn là chối từ chúng.

4. Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết

Qúi anh chị đã được thầy Lợi giúp học hỏi các chân lý hay tín điều trên cả hơn nửa năm nay, nên tôi tin chắc quí anh chị đã nắm vững ý nghĩa của từng chân lý ấy. Chỉ xin thưa rằng lịch sử gần hai ngàn năm qua của Giáo Hội Công Giáo là lịch sử học hỏi các chân lý này, không phải chỉ của các em thiếu nhi, các dự tòng như quí anh chị, mà của toàn thể Giáo Hội. Thực vậy, toàn thể Giáo Hội, không trừ ai, từ những bậc thông thái và cao niên nhất như các vị giáo hoàng, các nhà thần học đến những người mới bập bẹ biết nói, đều chuyên chăm tiếp tục hết thế hệ này đến thế hệ nọ học hỏi các chân lý của đức tin. Bởi vì đó là những kho tàng, những giếng khơi bất tận mà không ai có thể tự hào múc cạn được.

Có tiếp tục học hỏi, ta mới thực sự nắm vững và biết phân biệt được đâu mới thực sự là chân lý đức tin mà ta có bổn phận phải tuân theo. Nhiều người cho rằng ta phải tin rằng Chúa dựng nên vũ trụ này trong 6 ngày như Thánh Kinh nói. Đúng là Thánh Kinh nói như thế, nhưng không phải chữ nào trong Thánh Kinh ta cũng phải tin một trăm phần trăm theo nghĩa đen. Đó chỉ là cách để Thánh Kinh giải thích tại sao ta phải nghỉ ngơi vào ngày thứ bẩy, sau 6 ngày làm việc. Điều Thánh Kinh nhấn mạnh chính là: mọi sự đều do Thiên Chúa dựng nên. Và đó là điều ta phải tin và điều ấy được cô đọng trong kinh tin kính Nixêa: Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha Phép Tắc vô cùng dựng nên trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình.

Kinh tin kính trên cũng đâu có đề cập gì tới việc Đức Mẹ hiện ra ở nơi này hay ở nơi kia. Nên việc hiện ra ấy, Giáo Hội để tùy quyền tự do của tín hữu, muốn tin hay không tùy họ, không bắt buộc. Nói tóm lại, những điều phải tin đều đã được Giáo Hội long trọng tuyên bố bằng văn kiện, như các tín điều Đức Mẹ không mắc tội tổ tông, hay Đức Mẹ hồn xác lên trời, được các đức giáo hoàng long trọng công bố trong các năn 1854 và 1950. Do đó, muốn biết rõ về đức tin, ta cần phải tiếp tục học hỏi, qua các bài giảng của các cha trong Thánh Lễ Chúa Nhật, qua sách vở báo chí, truyền thanh, truyền hình Công Giáo...

II. Thờ

1. Chúa là đấng dựng nên ta

Trong số các chân lý của Đạo, các chân lý về Thiên Chúa đứng hàng đầu và là nền tảng của Đạo. Chúng ta tin nhận Người là đấng dựng nên ta (Đức Chúa Cha), là đấng cứu rỗi ta (Đức Chúa Con) và là đấng thánh hóa ta (Đức Chúa Thánh Thần).

Nói tóm lại, cả con người ta sở dĩ có, được tồn tại cả hồn lẫn xác, được cứu vớt, được nên tốt lành, tất cả là nhờ Thiên Chúa Ba Ngôi. Đến cha mẹ ta, những vị chỉ sinh ra ta về phần xác, mà ta còn thờ còn kính: thờ cha kính mẹ, hết dạ quí yêu suốt đời, mỗi lần nghĩ tới, chỉ những nước mắt ngắn nước mắt dài, dù đã già như tôi. Thì làm sao ta lại không thờ không kính đấng đã dựng nên ta cả hồn lẫn xác, tiếp tục cho ta tồn tại và làm ta nên tốt nên lành nhờ các ơn thánh Người ban?

2. Thờ và kính

Chữ thờ trong tiếng Việt chỉ có nghĩa là tôn kính và coi là thiêng liêng và việc này áp dụng cả cho người phàm trần là cha mẹ ta, ta tôn kính các ngài và coi các ngài là thiêng liêng, cả khi còn sống lẫn lúc các ngài đã qua đời, nhất là trường hợp sau.

Còn chữ kính, tiếng Việt hiểu là tôn trọng, không coi nhẹ mà coi nặng, thường dành cho người trên mình: kính trên nhường dưới hay những vị có công với mình: kính thầy yêu bạn.

Tiếng Việt, khi nói thờ cha kính mẹ, hình như có sự phân biệt về cấp bậc tôn kính giữa cha và mẹ. Thờ dường như có nghĩa mạnh hơn là kính. Và đây cũng là nét đặc trưng của Đạo Công Giáo khi phân biệt thờ khỏi kính.

a. Thờ chỉ dành cho một mình Thiên Chúa mà thôi, như quí anh chị đã học khi nói tới điều răn thứ nhất trong Mười Điều Răn: Ngươi chỉ được thờ một mình Thiên Chúa mà thôi. Không được thờ bất cứ ai khác, không được thờ bất cứ người phàm trần hay thần thiêng nào khác, càng không được thờ các đồ vật như sắc đẹp, quyền lực, tiền bạc hay danh vọng…

b. Nhưng thờ là thế nào? Điều răn thứ nhất thực ra không dùng chữ thờ, to worship, cho bằng dùng chữ phủ phục, to bow down. Đây là thái độ được Cựu Ước coi là chủ yếu khi ta tới trước mặt Thiên Chúa: xem 1 Sm 15:25 (lời vua Sa-un nói với tiên tri Samuen: “tôi đã phạm tội… Xin ông tha tội cho tôi và trở lại với tôi, để tôi phục xuống lạy Đức Chúa).

Theo Tin Mừng Thánh Mátthêu (Mt 4:10), chính Chúa Giêsu, khi bị ma quỉ cám dỗ trong sa mạc dịp Người ăn chay 40 đêm ngày trong đó, cũng đã phát biểu điều răn thứ nhất như sau: “Đã có lời chép rằng: ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi và phải phụng sự một mình Người mà thôi”.

Nhưng bái lạy chỉ là một hình thức bề ngoài. Nội dung của thờ lạy này thực sự là gì? Cả Cựu Ước cũng như Tân Ứơc đều cho hay nội dung đó như sau:

* Sách Đệ Nhị Luật 6:5: Trong bài diễn văn thứ hai của mình trước khi Dân Do Thái vào Đất Hứa, sau khi truyền lại Mười Điều Răn, Môsê đã nhấn mạnh tới điểm chủ yếu của Mười Điều Răn này bằng cách nói lớn với Dân: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em”.

* Sách Tin Mừng Thánh Máccô 12:30: Một kinh sư kia tới hỏi Người xem điều răn nào đứng đầu mọi điều răn, Chúa Giêsu trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”.

* Theo Tin Mừng Thánh Gioan (Ga 4:19-26) thì thờ lạy như thế chính là “thờ lạy trong thần trí và sự thật”. Vì sự thật là trước mặt Thiên Chúa, ta phải nhìn nhận sự hư vô bất lực của mình, nhìn nhận sự lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và cứu chuộc duy nhất; nên phải ca tụng, tôn vinh Người, chấp nhận thân phận hèn mọn với lòng tri ân và cảm tạ.

* Giáo Hội đã làm như thế ngay từ những ngày đầu. Thánh Justin Tử Đạo sống vào đầu thế kỷ thứ hai, đã mô tả (xem First Apology 66.1-3) cách các Kitô hữu sơ khai thờ phượng Chúa ra sao: họ tụ tập nhau vào ngày đầu tuần, ngày kỷ niệm Chúa Giêsu sống lại, để nghe lời Chúa trong Sách Thánh, được vị chủ tọa giải thích sau đó. Rồi bánh và rượu được đem tới, được vị chủ toạ dâng lời tạ ơn Thiên Chúa trên hai của lễ này, rồi bánh và rượu được phân phối cho tín hữu.

Trong lời mô tả trên, ta thấy có hành vi cảm tạ, chính chữ cảm tạ này được dùng để chỉ Thánh Lễ của ta hiện nay. Quả thế, “eucharist” hiện được ta hiểu là thánh lễ, nhưng khởi nguyên nó có nghĩa là lễ tạ ơn. Nói cho cùng thánh lễ của ta theo hệt mẫu này, mẫu mà họ mô phỏng theo Chúa Giêsu trên đường Emmau. Người cũng đã cử hành Lễ Tạ Ơn ấy ngay sau khi sống lại với hai môn đệ đang hết sức chán nản, chán nản đến độ không nhìn ra Thầy mình đang cùng đi một đường với mình và đang giảng giải Thánh Kinh cho mình nghe. Không hệ gì, họ sẽ nhận ra Người lúc Người bẻ bánh mời họ cùng ăn. Vì vậy mà Thánh Lễ luôn có hai phần: phần lời Chúa và phần phụng vụ Thánh Thể.

Quí anh chị hẳn đã nắm được đây là đỉnh cao việc thờ lạy Thiên Chúa của ta cùng với cộng đồng dân Chúa. Và để thực thi điều răn thứ nhất Giáo Hội muốn chúng ta tham dự Thánh Lễ mỗi Chúa Nhật quanh năm và những lễ buộc như Giáng Sinh, Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Dĩ nhiên, ta phải tham dự việc thờ lạy này với nội dung đích thực của nó là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ta.

Ngoài ra, từng cá nhân, ta vẫn luôn có thể thờ lạy Chúa bằng cách cầu nguyện với Người, truyện trò thân tình với Người bất cứ lúc nào, lúc vui, lúc buồn, lúc hân hoan, lúc sầu khổ, để cảm tạ, ngượi khen, cầu cứu Người nâng đỡ ủi an, giúp ta sức mạnh vượt qua các khó khăn trên đời…

c. Kính Đức Mẹ và các Thánh: Đối với Đức Mẹ, các thánh, các vĩ nhân của nhân loại, trong đó có các anh hùng dân tộc, có cha mẹ, ông bà ta, những người đã miệt mài sinh thành ra ta cả thân xác lẫn tinh thần, như lời hát của Nguyễn Đức Quang trong bài Du Ca Việt Nam ngạo nghễ: “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại, Xương da thịt này cha ông ta miệt mài”, thì ta luôn có chữ kính trọng, coi nặng ơn mưa móc, cố gắng phát huy tinh thần của các ngài, giữ thơm quê mẹ như một bài hát của ông Phạm Duy.

Ta không thờ lạy Đức Mẹ và các Thánh, không coi các ngài là thần minh, là chúa tể. Các ngài cũng là tạo vật như ta, hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa trong mọi sự. Tự các các ngài, các ngài không thể làm gì cho ta ngoài việc cầu cùng Chúa cho ta. Ta gọi hành động các ngài cầu cùng Chúa cho ta này là sự cầu bầu. Kinh Kính Mừng chứng tỏ điều ấy. Ta đọc ở phần thứ hai của Kinh: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử Amen”. Chúng ta không xin Đức Mẹ ban ơn này ơn nọ cho ta. Việc ban ơn này là việc chỉ một mình Chúa mới ban được cho ta mà thôi. Về việc cầu bầu này, Đức Mẹ và các thánh sẵn sàng làm cho ta vì Đức Mẹ là Mẹ ta, các thánh là anh chị em ta trong mầu nhiệm “các thánh cùng thông công” mà ta vốn đọc thấy trong Kinh Tin Kính.

Ngoài ra, vai trò của Đức Mẹ và của các thánh nói chung còn là làm gương cho ta. Còn có ai sáng ngời về đức tin, đức cậy và đức mến hơn Đức Mẹ? Một phụ nữ vừa đính hôn, chưa về với chồng, mà sẵn sàng mang thai như thiên thần loan báo, không có sự cộng tác của chồng, theo luật Do Thái sẽ bị ném đá cho đến chết, nếu không có đức tin vào lời Chúa, ai mà dám! Đức Mẹ dám nhận lời vì tin tưởng hoàn toàn vào Thiên Chúa. Lời xin vâng của ngài lúc truyền tin, do đó, đã trở thành bất hủ trong lịch sử cứu rỗi. Đức tin của ngài sáng ngời hơn cả đức tin của tổ phụ Ápraham. Vì cùng lắm, Ápraham chi mất đứa con là Isaác, chứ đâu có mất mạng. Đức Mẹ chấp nhận cả khả thể mất mạng để vâng nghe lời Chúa! Ngài đáng được ta bắt chước, noi theo.

Ngoài ra lòng sùng kính đối với Đức Mẹ còn hết sức thích hợp với tâm tình nhân bản của ta. Con người bao giờ cũng có lòng biết ơn đối với những người làm ơn cho mình. Có thể nói rằng trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại, không có việc xuống thế làm người và chịu chết của Chúa Giêsu, thì không có sự cứu rỗi. Đức Mẹ là người đã làm cho việc xuống thế ấy thành sự thực, không biết ơn ngài thì ta đâu phải là người? Người Công Giáo sùng kính ngài là vì thế.

III. Mến

Như trên đã thấy, Đạo Công Giáo không phải là Đạo của sách vở, chỉ để học hỏi cho biết, mà là Đạo phải đem ra sống, sống với mình và sống với người khác.

Trên đây, ta đã được nghe Chúa Giêsu nói tới điều răn hàng đầu. Ai nhớ là điều gì không? Cũng trong chương 12: 31, Tin Mừng Thánh Máccô trên, sau khi nói tới điều răn hàng đầu ấy, Chúa Giêsu nói tiếp: “Điều răn thứ hai là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”. Yêu như chính mình là đủ rồi. Người bình thường như chúng ta, yêu người khác như yêu chính mình là đủ rồi, Chúa chỉ đòi có thế. Yêu người hơn yêu mình dành cho các anh hùng, cho các thánh, những người dám hy sinh cả mạng sống mình vì người khác. Xin mở ngoặc một chút: nếu nói thế thì hình như bà mẹ nào cũng anh hùng cả, vì bà mẹ nào không thương con hơn thương chính bản thân mình? Thành thử, nếu tôi làm giáo hoàng, tôi phong thánh cho mọi bà mẹ. Nhưng cũng có người nói: mẹ thương con chẳng qua là thương mình? Thôi ta không bàn đến chuyện đó ở đây.

Trở lại với việc yêu người như yêu chính mình. Yêu như thế là yêu thế nào? Ở đây, ta nhớ lời giáo huấn của Đức Khổng Tử: kỷ sở bất dục vật thi ư nhân: điều mình không muốn làm thì đừng làm cho người khác. Câu này cũng tìm thấy trong sách Tobia của Cựu Ước, chương 4 câu 15: “Điều gì con không thích, thì cũng đừng làm cho ai cả”. Chúa Giêsu thì nói một cách tích cực hơn. Theo Tin Mừng Thánh Mátthêu, chương 7, câu 12, Chúa nói thế này: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta”. Tin Mừng Thánh Luca, chương 6, câu 31 cũng thuật lại cùng một câu tích cực như vậy. Hãy làm cho người khác điều mình muốn họ làm cho mình.

Phần lớn chúng ta không muốn như thế, chỉ muốn thiên hạ làm cho mình thôi, còn mình thì không chịu nhúc nhích dù chỉ một ngón tay! Thành thử khuôn vàng thước ngọc này không hẳn là chuyện dễ làm.

Chưa hết, ở một chỗ khác, Chúa Giêsu còn nói rõ hơn về việc yêu người này. Nó không thuộc lãnh vực tình cảm hay xúc cảm, mà thuộc phạm vi ý chí. Bởi thế, dù mình không thích kẻ thù, kẻ thù thì ai mà thích cho được, không ai bắt được mình phải thích kẻ thù của mình cả, nó đi ngược lại bản tính con người, nhưng Chúa bảo: con phải yêu cả kẻ thù của con nữa (Mt 5:44). Không thích, nhưng vẫn phải yêu kẻ thù. Chỉ có ý chí mới làm được việc đó, mới “điều gì mình không thích nó làm cho mình thì đừng làm cho nó” hay “điều gì mình mong nó làm cho mình thì hãy làm cho nó điều đó”. Nói cho ngay, đôi khi mình không thích mình, mình giận mình, mình bực mình, nhưng mình đâu có ngưng yêu mình đâu? Thành thử chân lý: yêu người như yêu mình vẫn đúng. Ta cũng nên nhớ rằng, sau khi nói: tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta”, Chúa Giêsu kết luận: vì Luật Môsê và lời các tiên tri là thế đó”. Ta biết Cựu Ước gồm ba phần: luật Môsê, các lời tiên tri và các thánh vịnh. Nên khi Chúa bảo: Luật Môsê và lời các tiên tri là thế đó, có nghĩa là khuôn vàng thước ngọc trên đã tóm tắt hết bộ Sách Thánh rồi. Nói cách khác nó hết sức quan trọng.

Trước khi dừng lời, tôi muốn cùng quí anh chị nhắc lại các lời của Thánh Gioan, trong thư thứ nhất của ngài để chứng tỏ rằng yêu người là yêu Chúa. Lời thứ nhất (3:17): “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?”. Câu thứ hai (4:20-21), ngài nói rõ ràng và quả quyết hơn: “Nếu ai nói: ‘tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là người nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình”.