Tai ương và lý tưởng.

Lúc đó là vào giữa Tuần Thánh năm 1913 mà vị chánh xứ của nhà thở St. Patrick ở thành phố Omaha lại ngã bệnh nặng, cho nên cha Flanagan được lệnh đổi gấp về đây.

Về Omaha chưa trọn một tuần, vào Chúa Nhật Phục Sinh, ngày 23 tháng 3, 1913 lúc 6 giờ chiều, một cơn lốc khổng lồ đã quét xuống, trong chốc lát phá hủy 1 phần 3 thành phố thành bình địa.

Sáng hôm sau, dưới cơn gió lạnh và tuyết rơi bất thường, người ta thấy cha Flanagan đi với viên cai của nhà hòm là Leo Hoffman để lục lọi tìm xác người trong cảnh đổ nát và cố gắng lo cho các xác chết có được một việc chôn cất tử tế.

Cơn lốc giết chết 153 người, 2000 gia đình lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, các bệnh viện đầy ứ người bị thương, trẻ em lạc lõng khắp nơi, công xưởng đổ nát và các người đàn ông chủ gia đình bỗng nhiên thấy việc làm kiếm cơm của mình bay đi mất, họ đổ xô tới tòa Thị Chính để kêu xin bất kỳ việc làm chân tay tạm bợ nào cũng được nhưng kết quả vẫn là trở về tay không.

Đây là lần đầu tiên vị tân linh mục chứng kiến tận mắt một cảnh tai ương tàn khốc như thế, một hiện thực của những gì ngài đã nghe về quê nhà Ái Nhỉ Lan, cả một xã hội bị đảo lộn và những láng giềng thân thuộc tự dưng biến mất.

Thế mà vẫn chưa hết, hai năm sau, 1915, vùng Trung Tây lại bị hạn hán nặng. Thợ lao công không có việc phải nằm chịu trận ở Omaha, không tiền, không thức ăn. Các góc đường, đứng đầy người thất nghiệp, các ngõ hẻm, nằm đầy người đói rách. Chuông nhà xứ reo lên bất kể ngày đêm vì nhiều người đói quá đi tìm cơm.

Người ta thường thấy cha Flanagan lê bước lang thang trên các con đường tang thương, đầu óc miên man suy nghĩ bên giòng sông Missouri đầy nước mắt, số tiền lương của một linh mục đã tiêu hết và hội từ thiện Vincent De Paul mới thành lập cũng cạn vốn, ngài thốt lên với chị gái Nellie và anh trai (Cha Pat) rằng sự đau buồn đã dâng lên đến tột đỉnh.

Nhưng là một người mang giòng máu Ái Nhĩ Lan, một giòng máu đã chịu đựng hàng ngàn năm đô hộ mà vẫn quật cường, sự đau buồn tột cùng đã không dẫn đến thất vọng buông xuôi, một hôm ngài cho biết đã nhìn thấy 'Chúa Kitô trong một người' ('Christ in a man'.)

Không rõ câu nói đó có ý nghĩa là ngài đã có một hiển thị nhìn thấy Chúa hiện ra trong đám người cùng khổ, hay chỉ là một câu bóng bẩy diễn tả một sự đột phá trong tư tưởng, một 'giác ngộ' theo ngôn ngữ nhà Phật, nhưng từ cái mùa Hè đau buồn nhìn thấy 'Chúa Kitô trong một người' ấy, ngài thay đổi hẳn, ngài không chỉ còn là một linh mục hiền từ thương yêu mọi người nữa, mà hơn nữa ngài đã trở thành một chiến sĩ tranh đấu cho đám người nghèo khố bất lực, và tình thương vô biên của ngài dẫn tới nhiều mộng ước cao cả.

Ngài muốn thực hiện nhiều sáng kiến. Không chỉ là tiêu hết số tiền lương ít ỏi của mình, nhưng là vận động được bạn bè thân thuộc, làm bạn được với giới lãnh đạo, với người quyền quí, với thương gia, chủ hãng, bác sĩ, luật sư, các hội đòan...

Khi ngài đưa ra một ước ao, đó không chỉ là một mơ mộng hảo huyền, mà đó là một xác tín ngài đã ấp ủ từ lúc còn bé, từ lúc làm 'mục tử' cho một đàn cừu.

Trong những ước ao đó sẽ nẩy sinh ra "Boys Town." Nhưng hãy tạm gác chuyện "Boys Town" lại vì còn ở trong tương lai, điều đáng ghi nhận ở đây là những hạt giống được gieo vãi bởi một con người đã nhìn thấy 'Chúa Kitô trong một người' đã làm đảo lộn Thế Giới đầy hận thù lúc đó, làm cho nó trở thành nhân đạo hơn.

Ngài viết về những ngày đầy biến cố đó như sau: "Bản tính của tôi là hay lưu tâm đến người ta, và về việc họ sống như thế nào. Tôi lưu ý nhất đến việc làm thế nào để giúp họ sống tốt hơn nếu cuộc sống của họ chưa đựơc tốt lắm. Vì thế mà khi một tai ương xảy ra như hồi năm 1913 tại thành phố của chúng ta, tôi lập tức nhảy xổ vào lãnh vực cứu tế xã hội để thiết lập một căn nhà làm chỗ nương thân cho những người bất hạnh".

"Giúp họ sống tốt hơn," đơn giản chỉ có thế, những việc của vĩ nhân thường phát xuất từ cái đơn giản.

Trong nhiều năm kế tiếp ngài chỉ chú tâm vào việc tìm một nơi trú ẩn cho những người lao công bị mắc kẹt tại thành phố. Ngài đã tìm thấy một căn nhà xửa xe bỏ hoang trong một phố vắng, và khi mùa Đông tới gần, ngài trải rơm xuống nền và gọi những người đang co ro trong những kho chứa than của trạm xe hỏa về ngủ tại đấy.

Rồi với sự chuẩn y của đức Giám Mục Scannell ngài được phép mở một trung tâm cho người vô gia cư, cho nên vào tháng 11 năm ấy ngài đã mua lại một hotel cũ có tên là Burlington để chứa 57 người đàn ông.

Khi mùa Xuân đến và những người đàn ông đã đi làm xa, Cha Flanagan lại tìm mua được một trường nội trú cũ lớn hơn, ngài đặt tên là Khách Sạn Người Lao Công (Workingmen’s Hotel) và mùa Đông kế tiếp đã thành nơi cư trú cho 1 ngàn người.

Vào tháng 4 năm 1917, nước Hoa Kỳ tuyên bố tham chiến (Thế Chiến I,) những người lao công đang tạm trú ở Workingmen’s Hotel dần dà bỏ đi để đăng lính tòng quân. Nhưng lúc đó thì một hạng người khác cũng bắt đầu rủ nhau tới xin ở, đó là những đứa trẻ 'bụi đời', là hạng du đãng vô lọai đang tung hòanh ở các đầu đường xó chợ.

Khi nghe những câu chuyện về cuộc đời của chúng, Cha Flanagan nhận thấy có một cái gì tương đồng, giống như tất cả chỉ là những phiên bản khác nhau của cùng một câu chuyện. Cái tương đồng, cái mẫu số chung đó là, không có một đứa trẻ bụi đời nào đã được may mắn sống trong một gia đình biết thương yêu và biết đùm bọc lẫn nhau. Mọi đứa đều là sản phẩm của một gia đình đổ vỡ, bị cha mẹ bỏ bê hoặc từ một gia đình mà cha hay mẹ đã chết hoặc đã li dị.

Cha Flanagan quyết định nghiên cứu một cách thấu đáo về hệ thống tư pháp cho trẻ Vị Thành Niên và cố gắng thấu triệt mọi học thuyết xã hội đương thời. Vào mùa hè năm ấy, ngài xin tòa án cho bảo trợ 7 đứa con trai để thực hành một thí nghiệm, ngài sinh họat với chúng 3 lần một tuần và đặt ra một chương trình họat động lành mạnh cho chúng.

Trong khi làm việc với những trẻ bụi đời đó, Cha Flanagan còn khám phá ra một điều nữa, đó là sự vô cảm của hệ thống tư pháp, của những người có trách nhiệm nhưng không có khả năng nhìn thấy được cái hậu quả tai hại của cái nghèo, cái vô gia cư và cái bị bỏ rơi. Họ chỉ là những người 'thủ ghế' văn phòng hay 'giữ' một chức vụ, giỏi về một nghệ thuật duy nhất là thỏa mãn sức ép của các thế lực để 'giữ ghế cho vững.'

Cần phải đem thực tế và kiến thức để sửa chữa cơ chế hiện tại, từ một cơ chế trừng phạt thành một cơ chế cải huấn, từ một nguyên tắc 'gieo sự sợ hãi để ngăn ngừa tội phạm' thành nguyên tắc 'dùng tình thương để khuyến khích nhân đức.'

Đó là một công việc khó khăn trong cái xã hội bảo thủ thời đó, nhưng vấn đề trẻ Vị Thành Niên là một con bài đắt đỏ, đánh cá bằng hàng ngàn cuộc đời và tương lai, và cha Flanagan thì có cương quyết và sáng kiến.

Ngài biết đánh giá cao vai trò quyết định của diễn đàn công cộng. Trong những dịp viết bài để cổ võ những ý tưởng trên, ngài bỗng thấy mình có thể viết văn dễ dàng, gợi ý cách sống động và lời văn cũng hấp dẫn nhiều người đọc. Sau này trong một cuộc phỏng vấn ở Hollywood ngài đã bông đùa về cái tài viết văn rằng: "Mình bỗng khám phá ra chính mình".

Vào tháng 11 năm đó thì cha Flanagan đã biết chắc ý định của Chúa là như thế nào, ngài đến xin phép đức Giám Mục Jeremiah Harty cho được làm việc tòan thời gian với trẻ bụi đời, bắt đầu đức giám mục có ý nghi ngại, nhưng sau cùng đã chấp thuận, cho phép khởi sự một sứ mệnh mục vụ sẽ kéo dài 30 năm của ngài.

(kỳ tới và hết: Boys Town)