Châu Mỹ La Tinh, từng được nhiều vị giáo hoàng coi là lục địa của hy vọng, thực ra đang càng ngày càng phải đối diện với các thách đố đạo đức sinh học vốn đang gây tác hại cho các lân bang phía bắc của họ, trong đó thách đố lớn nhất chính là việc phi nhân vị hóa người đàn ông và người đàn bà. Nhưng trong cuộc chiến đấu này, cả ở Bắc Mỹ lẫn ở Châu Mỹ La Tinh, Giáo Hội đang là người dẫn đường.

Đó là lời tuyên bố của Tiến Sĩ John Haas, giám đốc Trung Tâm Đạo Đức Sinh Học Công Giáo Quốc Gia đặt trụ sở tại Philadelphia, và cũng là sáng lập viên và chủ tịch Viện Văn Hóa Quốc Tế (International Institute of Culture). Ông đang có mặt tại Mexico để thuyết trình cho lớp sinh viên thứ hai dọn thi cao học về đạo đức sinh học tại Trung Tâm Nghiên Cứu Xã Hội Cao Cấp ở Queretaro với đề tài về sinh vô tính (cloning) và các nguy cơ của nó đối với nhân loại.

Nói đến phần đóng góp của Giáo Hội Công Giáo vào lãnh vực đạo đức sinh học, Tiến Sĩ Haas cho rằng ngay trước khi có thuật ngữ đạo đức sinh học, Giáo Hội đã đi bước trước rồi. Thật vậy, ngay từ năm 1972, trung tâm hiện do ông làm giám đốc đã được thiết lập dù với tên khác, mặc dù hồi ấy, phá thai chưa được hợp pháp hóa, chưa ai nói tới AIDS và chưa có việc dùng tế bào gốc phôi thai để nghiên cứu. Tại Hoa Kỳ, sau chính phủ, Giáo Hội Công Giáo là định chế quan trọng thứ hai cung cấp việc chăm sóc sức khỏe cho dân chúng. Mỗi năm, Giáo Hội cung cấp hàng tỷ đôla cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người dân Hoa Kỳ. Sự đóng góp này giúp ta khả năng dự ứng các đề tài nay mai sẽ trở thành quan yếu đối với y khoa và các khoa học về sự sống. Ta phải sẵn sàng để thảo luận các đề tài ấy theo cái nhìn của Tin Mừng.

Theo tiến sĩ Haas, các đề tài quan trọng nhất của đạo đức sinh học ngày nay là vấn đề phi nhân vị và phi nhân bản các dịch vụ y tế. Con người nhân bản đang bị coi là không có quyền lợi gì. Việc hiến các bộ phận người đang trở thành một thứ buôn bán quốc tế. Việc buôn bán ấy cũng đang xẩy ra cho lãnh vực thụ thai trong ống nghiệm, một vụ buôn bán lên đến 5 triệu đôla mỗi năm riêng tại Hoa Kỳ. Người đàn ông và người đàn bà không còn được coi là những con người nhân bản nữa, mà chỉ là những chất liệu được sử dụng để thí nghiệm khoa học, trong đó, nhiều cuộc thí nghiệm được mệnh danh là để cứu người khác.

Trong lịch sử đạo đức sinh học, tuy Giáo Hội bị làm ngơ nhiều, nhưng theo Tiến Sĩ Hass, trong những vấn đề quan yếu, thái độ cương quyết của Giáo Hội nhiều lần đã thắng thế. Như trường hợp thị trưởng New York yêu cầu Đức Hồng Y John O’Connor, cựu Tổng Giám Mục New York, phải bao gồm việc ngừa thai trong các dịch vụ y tế Công Giáo, Đức Hồng Y cho hay ngài không thể làm điều đó được. Thị trưởng vẫn một mực nài ép khiến Đức HY O’Connor phải đe dọa đóng cửa các bệnh viện và trung tâm sức khỏe Công Giáo. Thị trưởng đành bỏ cuộc, vì thành phố New York không thể không có các bệnh viện và trung tâm y tế Công Giáo.

Về việc thiết lập các ủy ban đạo đức sinh học tại các bệnh viện, Tiến Sĩ Haas cho đây là điều hệ trọng. Kể từ 5 năm trở lại đây, cơ quan có nhiệm vụ phê chuẩn các bệnh viện tại Hoa Kỳ đã đưa ra điều lệ qui định rằng tại mỗi bệnh viện phải có một ủy ban đạo đức sinh học. Về phương diện này, Giáo Hội Công Giáo là người dẫn đường, vì bệnh viện Công Giáo nào cũng có một ủy ban đạo đức sinh học, không phải chỉ mới đây, mà luôn luôn vẫn đã có một ủy ban như thế. Trung Tâm Đạo Đức Sinh Học Công Giáo Quốc Gia mà Tiến Sĩ Haas làm giám đốc có chương trình kéo dài một năm để cấp chứng nhận cho các bệnh viện về phương diện này. Các bác sĩ, y tá và quản trị viên phải theo khóa học này trọn vẹn. Nhờ thế, các tiêu chuẩn đạo đức sinh học Công Giáo đã được thống nhất hóa và nền luân lý cũng như các nguyên tắc Công Giáo được đem vào các bệnh viện do Giáo Hội quản trị. Các bệnh viện khác cũng đang mô phỏng chính sách và phương pháp của Giáo Hội.

Đối với thứ “huyền sử đen” cho rằng Giáo Hội Công Giáo chống lại tiến bộ khoa học, Tiến Sĩ Haas cho rằng thực ra “huyền sử đen” là thuật ngữ người ta quen dùng để tố cáo Giáo Hội về tội thực dân hóa Tân Thế Giới, nên ít người Hoa Kỳ nghe nói tới thuật ngữ này. Mặt khác, ở Mỹ, tình hình có khác. Ở đây, phe đa số không phải là Giáo Hội Công Giáo mà là Thệ Phản. Những người này tin rằng các ý nghĩ của họ về tôn giáo là duy nhất đúng. Luther từng cho rằng ta được cứu rỗi nguyên chỉ nhờ ơn thánh và đức tin mà thôi. Đối với ông, lý trí là điều nguy hiểm. Trong cuốn chú giải về thư gửi tín hữu Galát, ông viết rằng muốn được cứu rỗi, các Kitô hữu phải giết chết lý trí đi và dâng nó lên làm hy lễ cho Thiên Chúa. Vấn đề nan giải là tại Hoa Kỳ, nhiều người tin rằng điều đó đúng đối với mọi tôn giáo. Do đó, họ bảo Giáo Hội Công Giáo “phi lý” và “duy luật lệ”. Không có gì xa sự thật bằng câu kết án ấy, như Đức Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI nhiều lần minh xác: đức tin và lý trí là hai sức mạnh ta có được để biết sự thật. Mặt khác cũng không có gì xa sự thật bằng việc cho rằng người Công Giáo bác bỏ phá thai, bác bỏ ngừa thai v.v… là vì ai đó ra lệnh cho họ phải làm thế. Thực ra họ làm thế vì, nhất quán với Tin Mừng, với tinh thần của Tin Mừng, với tự do của Tin Mừng, họ nhìn ra tính vô luân và phi nhân của những thực hành ấy.

Theo Tiến Sĩ Haas, muốn tái dẫn nhập nền văn hóa Công Giáo vào ngữ cảnh đạo đức sinh học ngày nay, ta phải thực hành điều Đức Gioan Phaolô viết trong thông điệp “Chân Lý Sáng Ngời”. Về gần cuối thông điệp ấy, vị giáo hoàng này viết rằng sức mạnh thực sự trong giáo huấn và nền văn hóa Công Giáo là luôn dõi mắt hướng về Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Mọi sự phải phát sinh từ đó: nay không phải là lúc để biện lý, mà là lúc để làm chứng nhân, như Đức Hồng Y Ratzinger có lần đã nói với Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.

Theo Zenit, 1 tháng 9 năm 2011