Lịch sử đối thoại với Phật Giáo Phương Đông của giới đan sĩ Công Giáo khá lý thú. Tiếp theo thông điệp Fidei donum (1957) của Đức Piô XII, các đan viện Bênêđíctô và Xitô bắt đầu lập cơ sở tại các “Giáo Hội Trẻ” nơi Kitô Giáo mới được du nhập. Để điều hợp cho sáng kiến mới này, Văn Phòng Liên Minh Đơn Tu Quốc Tế (AIM) đã được thành lập từ năm 1960. Năm 1964, Văn Phòng này tổ chức phiên họp đầu tiên gồm các bề trên các đan viện tại Bouaké, Phi Châu. Phiên họp thứ hai được tổ chức tại Bangkok năm 1968, mà Thomas Merton, nhà đan sĩ nổi tiếng đã tham dự và qua đời tại đó. Chính tại hội nghị giữa khung cảnh Phật Giáo này, các đan sĩ Công Giáo đã “ngộ” ra sự cần thiết phải có đối thoại sâu sắc giữa các đan sĩ của mọi tôn giáo, nhất là với Phật Giáo. Thế là vào tháng 10 năm 1973, tại Bangalore, Ấn Độ, các đan sĩ Kitô Giáo và không Kitô Giáo đã gặp nhau lần đầu tiên trong lịch sử để nói với nhau về vấn đề căn bản nhất của cuộc sống đơn tu là cảm nghiệm về Thiên Chúa. Sự thành công của cuộc gặp gỡ này khiến Đức HY Pignedoli, lúc đó là Chủ Tịch Văn Phòng Thư Ký cho Người Không Kitô Giáo, yêu cầu Viện Phụ Trưởng Rembert Weakland khuyến khích các đan sĩ Bênêđictô dấn thân vào cuộc đối thoại liên tôn, điều được ngài gọi là “đơn tu làm cầu nối giữa các tôn giáo”.
Từ đó, AIM tổ chức hai cuộc gặp gỡ cho các đan sĩ và chuyên viên vào năm 1977, một ở Hoa Kỳ (Petersham), một ở Âu Châu (Loppem). Hai cuộc gặp gỡ này, năm 1978, đã dẫn tới việc thiết lập ra hai tiểu ban: NABEWD (North American Board for East-West Dialogue), nay đổi thành MID (Monastic Interreligious Dialogue), cho vùng Bắc Mỹ; DIM/MID cho Âu Châu (Dialogue Interreligieux Monastique/Monastic Interreligious Dialogue).
DIM/MID cho rằng nguyên mẫu đơn tu là chung cho toàn thể nhân loại. Nghĩa là mỗi một con người nhân bản đều có thiên hướng đơn tu. Chính vì thế, dù thực hành có khác nhau, đơn tu là cây cầu qua đó các tôn giáo khác nhau có thể gặp nhau. Nhà đan sĩ, nghĩa là những người ráng vươn tới thể thống nhất nội tâm và mở lòng ra đón nhận thể tuyệt đối, rất dễ dàng nhận ra nhau và tự phát bước vào cuộc đối thoại ở đời. Mọi đan viện, dù thuộc tôn giáo nào, nay hết thẩy trở thành người hàng xóm cận kề.
Trang mạng www.dimmid.org là thửa vườn chung trình bày thật nhiều hoa trái của một Mùa Xuân đối thoại. Chúng tôi cho phổ biến một bài, không hẳn là biên khảo, mà là thuật lại kinh nghiệm bản thân trong việc vận dụng triết lý sống của cả Kitô Giáo lẫn Phật Giáo vào hành trình đơn tu của mình. Tác giả là một người Mỹ gốc Trung Hoa, Nữ Đan Sĩ Sheryl Frances Chen, Dòng Xitô Nhiệm Nhặt (OCSO) hay còn gọi là Trappist. Bà sinh tại Princeton, NJ, lớn lên tại California và theo học ĐH Yale, có bằng BA, hạng danh dự, về tôn giáo học. Bà nhập Đan Viện Santa Rita tại Arizona năm 1983, di chuyển về Đan Viện Đức Bà Mississippi ở Iowa năm 2001, và năm 2002, tham gia cơ sở mới của đan viện gọi là Tautra Mariakloster trên đảo Tautra ở Na Uy. Bà là thành viên trong ủy ban Scandinavian của DIMMID. Trong cộng đoàn, bà là phụng vụ viên và ca sĩ chính, đồng thời nấu bếp vào Thứ Bẩy.
Điều bạn thấy không phải là điều bạn tiếp nhận được thực sự
Các thảo chương viên điện toán từng cho ta chữ viết tắt WYSIWYG, có nghĩa là “What You See Is What You Get” (điều bạn thấy là điều bạn tiếp nhận được y chang). Câu này muốn nói: điều bạn thấy trên màn ảnh khi bạn gõ máy thành bản văn sẽ y hệt như thế khi bạn in ra. Năm ngoái, khi tôi đọc cuốn The Universe in a Single Atom: the Convergence of Science and Spirituality (Vũ Trụ trong một Nguyên Tử Đơn Nhất: Sự Hội Tụ của Khoa Học và Linh Đạo) của Đức Dalai Lama, tựa đề cuốn sách tương tự hết sức với cái nhìn của Thánh Bênêđíctô về việc toàn bộ vũ trụ được bao gồm trong một tia ánh sáng duy nhất. Tôi cũng được đọc rằng theo học lý nền tảng của Phật Giáo, có một sự chênh lệch giữa tri giác (perception) của ta và cách thế sự vật hiện hữu. Học lý này, đối với tôi, đã nói lên chữ viết tắt mới WYSINWYG, hay “What You See Is NOT What You Get” (điều bạn thấy KHÔNG phải là điều bạn tiếp nhận thực sự).
Trong hành trình đơn tu của mình, tôi được hưởng nhiều lợi ích từ nhập lượng tâm lý học. Một trong những cái nhìn sâu sắc có tính nền tảng về việc biết mình là khi ta hiểu ra rằng điều ta thấy lệ thuộc trực tiếp vào mầu sắc chiếc kính ta đeo. Tri giác của ta về thực tại phát xuất từ hậu cảnh sống của ta, từ các khuôn mẫu tác phong và nhất là các cơ chế phòng ngự (defense mechanisms) ta lượm lặt từ cha mẹ, và nhiều nhân tố đào luyện khác nữa trong diễn trình trưởng thành của mình. Phần lớn chúng ta nghĩ mình khách quan, nhưng thực ra, mỗi người chúng ta đều có chân lý riêng của mình, và chân lý ấy có tính chủ quan. Đàng khác, các hoài mong về những gì sẽ xẩy đến trong đời ta, dựa vào kinh nghiệm trước đây về chính thực tại của mình, đã đem đến cho ta những tiền thiên hướng (predispositions) khiến ta cứ thế lặp đi lặp lại kinh nghiệm của mình và coi nó như đang tái xẩy ra thật. Bởi thế mới có chuyện điều ta thấy QUẢ LÀ điều ta tiếp nhận thực sự, chỉ vì ta chờ mong nó.
Một trong các phát biểu khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ vừa qua là ngay cả không gian và thời gian cũng tương đối. Nguyên Lý Không Chắc Chắn của Heisenberg nói rằng một quan sát viên tự cho mình khách quan khi quan sát một hiện tượng vật lý vẫn ảnh hưởng tới kết quả của đo lường. Vị trí của người quan sát xác định ra việc tri giác hiện tượng ấy. Điều bạn thấy tùy thuộc nơi bạn đứng.
Vị cựu tổng viện phụ Dom Bernardo Olivera đã dí dỏm tóm lược kinh nghiệm tham dự các cuộc hội nghị của ngài trong các nền văn hóa Tây Phương và Đông Phương như sau: Ở Tây Phương, các cuộc hội nghị khởi đầu và kết thúc đúng vào giờ nhất định được chỉ rõ trên một dụng cụ gọi là đồng hồ. Trái lại, ở Đông Phương, các cuộc hội nghị bắt đầu khi mọi người có mặt và kết thúc khi công việc đạt được một kết luận thỏa đáng. Rất nhiều các nhà chú giải Tân Ước từng nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu hành động dựa vào một cái hiểu tương đối hơn về thời gian, hay ít nhất những người quan sát Người, tức các tin mừng gia, đã viết về Người như vậy. Thí dụ, họ mô tả một cuộc chữa bệnh của Người, rồi kể rằng “sau đó” Chúa Giêsu đi Giuđêa. Điều quan trọng là cách thế Chúa Giêsu liên hệ với các nhu cầu của những người tới với Người. Không gian và thời gian là chuyện tương đối và tương quan. Tôi vẫn thường ngạc nhiên trước sự dị biệt trong cách thế người đàn ông và người đàn bà tích nhập các kinh nghiệm của họ. Người đàn ông có khuynh hướng “cắt đứt” hay vứt bỏ các cành lá râu ria rườm rà để chỉ tập chú vào cái thân cây nguyên tuyền, thẳng đứng, đúng là cái ngay đuỗn dương thể (phallic!). Người đàn bà, trái lại, thu tích nhiều kinh nghiệm khác nhau để cuộn tròn chúng vào chính trung tâm của họ và tích nhập chúng vào chính cái tròn đầy của mình, đúng là cái màng nhện hay một bánh xe. Điều người đàn ông và người đàn bà thấy tùy thuộc điều họ dự định làm với nó.
Một người bạn Na Uy của tôi rất thích khi thấy cả một thế hệ đang lớn lên với Harry Potter. Những cuốn sách này đã làm thành thông thường điều này: rất có thể có hai thực tại hiện hữu bên cạnh nhau. Thực tại nào bạn thấy là tùy ở việc bạn là người ảo thuật hay chỉ là anh chàng Muggle (1). Thế hệ mai sau, khi gia nhập các đan viện của chúng tôi, có thể thấy chẳng có gì lạ hay chẳng có gì khó nhận ra việc thế giới tâm linh đồng hiện hữu với thế giới thể lý đang bị khốn khổ vì thiên tai, khủng hoảng kinh tế hay chiến tranh liên tộc. Trong một bài giảng của mình, Chân Phúc John Henry Newman mô tả hai thế giới mà chúng ta vốn tuyên xưng mỗi Chúa Nhật trong Kinh Tin Kính như sau:
“Có hai thế giới, ‘hữu hình và vô hình’, như Kinh Tin Kính dạy, -- thế giới ta thấy, và thế giới ta không thấy; và thế giới ta không thấy cũng hiện hữu đích thực như thế giới ta thấy. Nó thực sự hiện hữu, dù ta không thấy nó. Thế giới ta thấy, ta biết nó hiện hữu vì ta thấy nó. Những gì mắt ta trông thấy tạo thành một thế giới. Nó là một thế giới mênh mông; nó vươn tới tận các vì sao. Nó ở khắp nơi; và xem ra nó không chừa một chỗ nào cho bất cứ một thế giới nào khác.
“Ấy thế nhưng, bất chấp cái thế giới bao la mà ta thấy này, vẫn có một thế giới khác, xa cách nghìn trùng nhưng cũng thật gần gũi với ta, mà còn diệu kỳ hơn nữa; một thế giới bao quanh ta, dù ta không thấy nó, và diệu kỳ hơn thế giới ta thấy. Vì trước hết, có Đấng ở đó, Người hiện hữu trên hết mọi hữu thể, Đấng dựng nên mọi hữu thể, Đấng mà trước Người mọi hữu thể chỉ là hư không, và với Người không hữu thể nào có thể so sánh. Chúng ta biết: Thiên Chúa Toàn Năng hiện hữu một cách thực sự và một cách tuyệt đối hơn bất cứ đồng loại nhân bản nào mà sự hiện hữu đang được chuyển tới ta qua các giác quan; ấy thế nhưng ta không thấy Người…
“Các thiên thần cũng là các cư dân của thế giới vô hình…
“Như thế, thế giới thần linh, dù ta không thấy, đang hiện diện; vâng đang hiện diện trong hiện tại, không trong tương lai, không xa xôi diệu vợi. Nó không ở trên mây, trên trời, nó cũng không ở bên kia nấm mồ; nó ở đây và bây giờ; nước Thiên Chúa đang hiện diện giữa chúng ta.
“Đó chính là nước dấu ẩn của Thiên Chúa; và, nay đang dấu ẩn, nhưng đến thời đến lúc, nó sẽ được vén mở… Đó chính là sức mạnh và tiềm lực dấu ẩn trong các sự vật ta thấy, và nếu Chúa muốn, chúng sẽ được tỏ hiện… Chúng sẽ được tỏ hiện mãi mãi khi Chúa Kitô tái lâm vào Ngày Sau Hết trong vinh quang Cha Người với các thiên thần thánh thiện. Lúc ấy, thế giới này sẽ mờ khuất đi còn thế giới kia sẽ rực rỡ sáng láng” (Parochial and Plain Sermons, cuốn 4, các trang 200-204. 207-209).
Khi đối thoại với Reimyo Tierelinckx Roshi và Trudy Fredriksson của Hiệp Hội Phật Giáo Thụy Điển, và với Helena Anliot và Morten Berg của Trung Tâm Dhamma Sobhana Vipassana, Lyckebygården, Ödeshög, Thụy Điển, chúng tôi thấy rằng chúng tôi cùng có chung một kỷ luật về giác (awareness). Thực hành về giác có nghĩa là sống trong một tinh thần hiệp thông với tất cả mọi hữu thể. Thế giới không bị phân chia bởi các nhãn hiệu ý niệm. Đạt giác ngộ (enlightment) là đi vào thực tại tối hậu này đàng sau cái thực tại hư ảo kia. Phương ngôn thời danh “trước khi giác ngộ, bổ củi và gánh nước; sau khi giác ngộ, vẫn bổ củi và gánh nước” chuyên chở chân lý này là tuệ giác tâm linh không thay đổi cái bề ngoài, nhưng thay đổi con mắt ta nhìn. Mọi sự vẫn như nguyên, nhưng mọi sự cũng ra khác. Chính người thực hành nay đã biến đổi. Điều bạn thấy, ĐANG HIỆN HỮU.
Đan sĩ cũng thế đang cố gắng mong được điều duy nhất cần thiết. Đối với tôi, đó chính là sự lôi cuốn vào lối sống trong đó, mọi sự đều qui hướng về Thiên Chúa. Đó chính là sức đẩy đối với các giáo phụ và giáo mẫu sa mạc, cũng như các vị sáng lập Xitô: tuân theo cái giản đơn của qui luật làm con đường sống Tin Mừng. Các vị sáng lập của chúng tôi được mô tả như những con người tìm cách tránh cái phân chia của ảo giác để tới được cái nhất tướng (oneness) của chân lý. Đồng tâm hiệp nhất là một giá trị tối cao. Phương cách tạo hiệp nhất trong đan viện vốn đòi có chút nhất dạng (uniformity). Chia rẽ thường do ảo giác, nghĩa là các cá nhân đan sĩ không nhìn đúng. Nếu họ sống phù hợp theo các qui định chính xác của Tân Đan Viện, thì cộng đoàn sẽ hiệp nhất trong cùng một đồng tâm nhất trí tìm kiếm Thiên Chúa. Điều này, đối với tôi, rất gần với tưởng uẩn hay tri giác (perception) của nhà Phật: ảo giác gây ra đau khổ. Con đường dẫn tới hạnh phúc là bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm và chính định. Dù tám con đường này đều phải thực hành cùng một lúc, nhưng con đường được kể đầu tiên chính là chính kiến, học để nhìn đúng. Các vị sáng lập ra Xitô cố gắng lập ra một đan viện để những ai sống trong đó được đào luyện bên trong bằng cách tuân giữ rất nhiều những điều nhỏ nhặt đối với tác phong bên ngoài. Điều bạn thấy là điều bạn trở nên; điều bạn trở nên là điều bạn thấy.
Nếu người Phật Giáo tới được Niết Bàn nghĩa là nơi không có đau khổ, bằng cách chính tư duy và thấy thực tại này: mọi tạo vật đều có liên hệ với nhau, thì tôi tự hỏi mình Kitô Giáo đã tiếp xúc được bao nhiêu với thực tại ấy. Người ta vốn cho rằng điều làm Kitô Giáo độc đáo là các tín lý nhập thể và phục sinh sau khổ nạn, là hai thời điểm trong đời Chúa Giêsu khi thân xác nhân bản của Người hiển thị rõ ràng hơn cả. Có biện luận cho rằng cái đau của sinh và của tử là những lúc người ta tiếp xúc với thực tại hơn hết. Điều bạn thấy là điều bạn cảm nhận. Thực vậy, tôi dám cho rằng một phần trong ý thức mình là Kitô hữu là chú ý tới đau khổ và thương tích vốn là đặc điểm của ta trên đường lữ thứ trần gian. Trong một cộng đồng Kitô Giáo như đan viện, việc mang thương tích của tôi, và việc mang thương tích của các chị em tôi, thường trở nên khá hiển thị. Không được tránh né hay bác bỏ, nhưng phải tiếp nhận và biến cải thành điều tốt. Chị em có thương tích, dù thể lý hay tâm lý, cũng đều hiện thực, là thành phần của Thân Thể Chúa Kitô, và tôi, như một chi thể khác của Thân Thể Người, tôi cần nhìn nhận vết thương của chị như là một phần của thực tại chị, cũng như các vết thương của tôi là một phần thực tại chị khi chúng tôi cùng nhau tìm kiếm Thiên Chúa trên ngả đường đan viện.
Với tôi, cám dỗ là nhìn thịt xương chị và dừng lại đó. Tôi cần phải thấy cả tính thần linh trong chị nữa, một tính hiện thực không kém. Chúa Giêsu vừa thần linh vừa nhân bản thế nào, thì chúng ta cũng thế. Mỗi chúng ta đều là một linh hồn có thân xác. Mỗi chúng ta đều là hai thế giới, cả hữu hình lẫn vô hình. Đối với người Kitô hữu đã đạt tới trạng thái giác ngộ, điều bạn thực sự có là cả điều bạn thấy lẫn điều bạn không thấy. Điều quan trọng là tôn trọng cả điều hữu hình lẫn điều vô hình, cả điều bất toàn lẫn điều hoàn toàn, cả điều dễ thương tổn lẫn điều đầy vinh quang. Điều bạn thấy là điều được ban cho bạn từ Đấng Tạo Hóa của mọi hữu thể.
(1) Muggle, trong bộ truyện Harry Potter của J. K. Rowling, là người không có một chút khả năng ảo thuật nào và cũng không được sinh ra trong thế giới ảo thuật.
Từ đó, AIM tổ chức hai cuộc gặp gỡ cho các đan sĩ và chuyên viên vào năm 1977, một ở Hoa Kỳ (Petersham), một ở Âu Châu (Loppem). Hai cuộc gặp gỡ này, năm 1978, đã dẫn tới việc thiết lập ra hai tiểu ban: NABEWD (North American Board for East-West Dialogue), nay đổi thành MID (Monastic Interreligious Dialogue), cho vùng Bắc Mỹ; DIM/MID cho Âu Châu (Dialogue Interreligieux Monastique/Monastic Interreligious Dialogue).
DIM/MID cho rằng nguyên mẫu đơn tu là chung cho toàn thể nhân loại. Nghĩa là mỗi một con người nhân bản đều có thiên hướng đơn tu. Chính vì thế, dù thực hành có khác nhau, đơn tu là cây cầu qua đó các tôn giáo khác nhau có thể gặp nhau. Nhà đan sĩ, nghĩa là những người ráng vươn tới thể thống nhất nội tâm và mở lòng ra đón nhận thể tuyệt đối, rất dễ dàng nhận ra nhau và tự phát bước vào cuộc đối thoại ở đời. Mọi đan viện, dù thuộc tôn giáo nào, nay hết thẩy trở thành người hàng xóm cận kề.
Trang mạng www.dimmid.org là thửa vườn chung trình bày thật nhiều hoa trái của một Mùa Xuân đối thoại. Chúng tôi cho phổ biến một bài, không hẳn là biên khảo, mà là thuật lại kinh nghiệm bản thân trong việc vận dụng triết lý sống của cả Kitô Giáo lẫn Phật Giáo vào hành trình đơn tu của mình. Tác giả là một người Mỹ gốc Trung Hoa, Nữ Đan Sĩ Sheryl Frances Chen, Dòng Xitô Nhiệm Nhặt (OCSO) hay còn gọi là Trappist. Bà sinh tại Princeton, NJ, lớn lên tại California và theo học ĐH Yale, có bằng BA, hạng danh dự, về tôn giáo học. Bà nhập Đan Viện Santa Rita tại Arizona năm 1983, di chuyển về Đan Viện Đức Bà Mississippi ở Iowa năm 2001, và năm 2002, tham gia cơ sở mới của đan viện gọi là Tautra Mariakloster trên đảo Tautra ở Na Uy. Bà là thành viên trong ủy ban Scandinavian của DIMMID. Trong cộng đoàn, bà là phụng vụ viên và ca sĩ chính, đồng thời nấu bếp vào Thứ Bẩy.
Điều bạn thấy không phải là điều bạn tiếp nhận được thực sự
Các thảo chương viên điện toán từng cho ta chữ viết tắt WYSIWYG, có nghĩa là “What You See Is What You Get” (điều bạn thấy là điều bạn tiếp nhận được y chang). Câu này muốn nói: điều bạn thấy trên màn ảnh khi bạn gõ máy thành bản văn sẽ y hệt như thế khi bạn in ra. Năm ngoái, khi tôi đọc cuốn The Universe in a Single Atom: the Convergence of Science and Spirituality (Vũ Trụ trong một Nguyên Tử Đơn Nhất: Sự Hội Tụ của Khoa Học và Linh Đạo) của Đức Dalai Lama, tựa đề cuốn sách tương tự hết sức với cái nhìn của Thánh Bênêđíctô về việc toàn bộ vũ trụ được bao gồm trong một tia ánh sáng duy nhất. Tôi cũng được đọc rằng theo học lý nền tảng của Phật Giáo, có một sự chênh lệch giữa tri giác (perception) của ta và cách thế sự vật hiện hữu. Học lý này, đối với tôi, đã nói lên chữ viết tắt mới WYSINWYG, hay “What You See Is NOT What You Get” (điều bạn thấy KHÔNG phải là điều bạn tiếp nhận thực sự).
Trong hành trình đơn tu của mình, tôi được hưởng nhiều lợi ích từ nhập lượng tâm lý học. Một trong những cái nhìn sâu sắc có tính nền tảng về việc biết mình là khi ta hiểu ra rằng điều ta thấy lệ thuộc trực tiếp vào mầu sắc chiếc kính ta đeo. Tri giác của ta về thực tại phát xuất từ hậu cảnh sống của ta, từ các khuôn mẫu tác phong và nhất là các cơ chế phòng ngự (defense mechanisms) ta lượm lặt từ cha mẹ, và nhiều nhân tố đào luyện khác nữa trong diễn trình trưởng thành của mình. Phần lớn chúng ta nghĩ mình khách quan, nhưng thực ra, mỗi người chúng ta đều có chân lý riêng của mình, và chân lý ấy có tính chủ quan. Đàng khác, các hoài mong về những gì sẽ xẩy đến trong đời ta, dựa vào kinh nghiệm trước đây về chính thực tại của mình, đã đem đến cho ta những tiền thiên hướng (predispositions) khiến ta cứ thế lặp đi lặp lại kinh nghiệm của mình và coi nó như đang tái xẩy ra thật. Bởi thế mới có chuyện điều ta thấy QUẢ LÀ điều ta tiếp nhận thực sự, chỉ vì ta chờ mong nó.
Một trong các phát biểu khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ vừa qua là ngay cả không gian và thời gian cũng tương đối. Nguyên Lý Không Chắc Chắn của Heisenberg nói rằng một quan sát viên tự cho mình khách quan khi quan sát một hiện tượng vật lý vẫn ảnh hưởng tới kết quả của đo lường. Vị trí của người quan sát xác định ra việc tri giác hiện tượng ấy. Điều bạn thấy tùy thuộc nơi bạn đứng.
Vị cựu tổng viện phụ Dom Bernardo Olivera đã dí dỏm tóm lược kinh nghiệm tham dự các cuộc hội nghị của ngài trong các nền văn hóa Tây Phương và Đông Phương như sau: Ở Tây Phương, các cuộc hội nghị khởi đầu và kết thúc đúng vào giờ nhất định được chỉ rõ trên một dụng cụ gọi là đồng hồ. Trái lại, ở Đông Phương, các cuộc hội nghị bắt đầu khi mọi người có mặt và kết thúc khi công việc đạt được một kết luận thỏa đáng. Rất nhiều các nhà chú giải Tân Ước từng nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu hành động dựa vào một cái hiểu tương đối hơn về thời gian, hay ít nhất những người quan sát Người, tức các tin mừng gia, đã viết về Người như vậy. Thí dụ, họ mô tả một cuộc chữa bệnh của Người, rồi kể rằng “sau đó” Chúa Giêsu đi Giuđêa. Điều quan trọng là cách thế Chúa Giêsu liên hệ với các nhu cầu của những người tới với Người. Không gian và thời gian là chuyện tương đối và tương quan. Tôi vẫn thường ngạc nhiên trước sự dị biệt trong cách thế người đàn ông và người đàn bà tích nhập các kinh nghiệm của họ. Người đàn ông có khuynh hướng “cắt đứt” hay vứt bỏ các cành lá râu ria rườm rà để chỉ tập chú vào cái thân cây nguyên tuyền, thẳng đứng, đúng là cái ngay đuỗn dương thể (phallic!). Người đàn bà, trái lại, thu tích nhiều kinh nghiệm khác nhau để cuộn tròn chúng vào chính trung tâm của họ và tích nhập chúng vào chính cái tròn đầy của mình, đúng là cái màng nhện hay một bánh xe. Điều người đàn ông và người đàn bà thấy tùy thuộc điều họ dự định làm với nó.
Một người bạn Na Uy của tôi rất thích khi thấy cả một thế hệ đang lớn lên với Harry Potter. Những cuốn sách này đã làm thành thông thường điều này: rất có thể có hai thực tại hiện hữu bên cạnh nhau. Thực tại nào bạn thấy là tùy ở việc bạn là người ảo thuật hay chỉ là anh chàng Muggle (1). Thế hệ mai sau, khi gia nhập các đan viện của chúng tôi, có thể thấy chẳng có gì lạ hay chẳng có gì khó nhận ra việc thế giới tâm linh đồng hiện hữu với thế giới thể lý đang bị khốn khổ vì thiên tai, khủng hoảng kinh tế hay chiến tranh liên tộc. Trong một bài giảng của mình, Chân Phúc John Henry Newman mô tả hai thế giới mà chúng ta vốn tuyên xưng mỗi Chúa Nhật trong Kinh Tin Kính như sau:
“Có hai thế giới, ‘hữu hình và vô hình’, như Kinh Tin Kính dạy, -- thế giới ta thấy, và thế giới ta không thấy; và thế giới ta không thấy cũng hiện hữu đích thực như thế giới ta thấy. Nó thực sự hiện hữu, dù ta không thấy nó. Thế giới ta thấy, ta biết nó hiện hữu vì ta thấy nó. Những gì mắt ta trông thấy tạo thành một thế giới. Nó là một thế giới mênh mông; nó vươn tới tận các vì sao. Nó ở khắp nơi; và xem ra nó không chừa một chỗ nào cho bất cứ một thế giới nào khác.
“Ấy thế nhưng, bất chấp cái thế giới bao la mà ta thấy này, vẫn có một thế giới khác, xa cách nghìn trùng nhưng cũng thật gần gũi với ta, mà còn diệu kỳ hơn nữa; một thế giới bao quanh ta, dù ta không thấy nó, và diệu kỳ hơn thế giới ta thấy. Vì trước hết, có Đấng ở đó, Người hiện hữu trên hết mọi hữu thể, Đấng dựng nên mọi hữu thể, Đấng mà trước Người mọi hữu thể chỉ là hư không, và với Người không hữu thể nào có thể so sánh. Chúng ta biết: Thiên Chúa Toàn Năng hiện hữu một cách thực sự và một cách tuyệt đối hơn bất cứ đồng loại nhân bản nào mà sự hiện hữu đang được chuyển tới ta qua các giác quan; ấy thế nhưng ta không thấy Người…
“Các thiên thần cũng là các cư dân của thế giới vô hình…
“Như thế, thế giới thần linh, dù ta không thấy, đang hiện diện; vâng đang hiện diện trong hiện tại, không trong tương lai, không xa xôi diệu vợi. Nó không ở trên mây, trên trời, nó cũng không ở bên kia nấm mồ; nó ở đây và bây giờ; nước Thiên Chúa đang hiện diện giữa chúng ta.
“Đó chính là nước dấu ẩn của Thiên Chúa; và, nay đang dấu ẩn, nhưng đến thời đến lúc, nó sẽ được vén mở… Đó chính là sức mạnh và tiềm lực dấu ẩn trong các sự vật ta thấy, và nếu Chúa muốn, chúng sẽ được tỏ hiện… Chúng sẽ được tỏ hiện mãi mãi khi Chúa Kitô tái lâm vào Ngày Sau Hết trong vinh quang Cha Người với các thiên thần thánh thiện. Lúc ấy, thế giới này sẽ mờ khuất đi còn thế giới kia sẽ rực rỡ sáng láng” (Parochial and Plain Sermons, cuốn 4, các trang 200-204. 207-209).
Khi đối thoại với Reimyo Tierelinckx Roshi và Trudy Fredriksson của Hiệp Hội Phật Giáo Thụy Điển, và với Helena Anliot và Morten Berg của Trung Tâm Dhamma Sobhana Vipassana, Lyckebygården, Ödeshög, Thụy Điển, chúng tôi thấy rằng chúng tôi cùng có chung một kỷ luật về giác (awareness). Thực hành về giác có nghĩa là sống trong một tinh thần hiệp thông với tất cả mọi hữu thể. Thế giới không bị phân chia bởi các nhãn hiệu ý niệm. Đạt giác ngộ (enlightment) là đi vào thực tại tối hậu này đàng sau cái thực tại hư ảo kia. Phương ngôn thời danh “trước khi giác ngộ, bổ củi và gánh nước; sau khi giác ngộ, vẫn bổ củi và gánh nước” chuyên chở chân lý này là tuệ giác tâm linh không thay đổi cái bề ngoài, nhưng thay đổi con mắt ta nhìn. Mọi sự vẫn như nguyên, nhưng mọi sự cũng ra khác. Chính người thực hành nay đã biến đổi. Điều bạn thấy, ĐANG HIỆN HỮU.
Đan sĩ cũng thế đang cố gắng mong được điều duy nhất cần thiết. Đối với tôi, đó chính là sự lôi cuốn vào lối sống trong đó, mọi sự đều qui hướng về Thiên Chúa. Đó chính là sức đẩy đối với các giáo phụ và giáo mẫu sa mạc, cũng như các vị sáng lập Xitô: tuân theo cái giản đơn của qui luật làm con đường sống Tin Mừng. Các vị sáng lập của chúng tôi được mô tả như những con người tìm cách tránh cái phân chia của ảo giác để tới được cái nhất tướng (oneness) của chân lý. Đồng tâm hiệp nhất là một giá trị tối cao. Phương cách tạo hiệp nhất trong đan viện vốn đòi có chút nhất dạng (uniformity). Chia rẽ thường do ảo giác, nghĩa là các cá nhân đan sĩ không nhìn đúng. Nếu họ sống phù hợp theo các qui định chính xác của Tân Đan Viện, thì cộng đoàn sẽ hiệp nhất trong cùng một đồng tâm nhất trí tìm kiếm Thiên Chúa. Điều này, đối với tôi, rất gần với tưởng uẩn hay tri giác (perception) của nhà Phật: ảo giác gây ra đau khổ. Con đường dẫn tới hạnh phúc là bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn, chính niệm và chính định. Dù tám con đường này đều phải thực hành cùng một lúc, nhưng con đường được kể đầu tiên chính là chính kiến, học để nhìn đúng. Các vị sáng lập ra Xitô cố gắng lập ra một đan viện để những ai sống trong đó được đào luyện bên trong bằng cách tuân giữ rất nhiều những điều nhỏ nhặt đối với tác phong bên ngoài. Điều bạn thấy là điều bạn trở nên; điều bạn trở nên là điều bạn thấy.
Nếu người Phật Giáo tới được Niết Bàn nghĩa là nơi không có đau khổ, bằng cách chính tư duy và thấy thực tại này: mọi tạo vật đều có liên hệ với nhau, thì tôi tự hỏi mình Kitô Giáo đã tiếp xúc được bao nhiêu với thực tại ấy. Người ta vốn cho rằng điều làm Kitô Giáo độc đáo là các tín lý nhập thể và phục sinh sau khổ nạn, là hai thời điểm trong đời Chúa Giêsu khi thân xác nhân bản của Người hiển thị rõ ràng hơn cả. Có biện luận cho rằng cái đau của sinh và của tử là những lúc người ta tiếp xúc với thực tại hơn hết. Điều bạn thấy là điều bạn cảm nhận. Thực vậy, tôi dám cho rằng một phần trong ý thức mình là Kitô hữu là chú ý tới đau khổ và thương tích vốn là đặc điểm của ta trên đường lữ thứ trần gian. Trong một cộng đồng Kitô Giáo như đan viện, việc mang thương tích của tôi, và việc mang thương tích của các chị em tôi, thường trở nên khá hiển thị. Không được tránh né hay bác bỏ, nhưng phải tiếp nhận và biến cải thành điều tốt. Chị em có thương tích, dù thể lý hay tâm lý, cũng đều hiện thực, là thành phần của Thân Thể Chúa Kitô, và tôi, như một chi thể khác của Thân Thể Người, tôi cần nhìn nhận vết thương của chị như là một phần của thực tại chị, cũng như các vết thương của tôi là một phần thực tại chị khi chúng tôi cùng nhau tìm kiếm Thiên Chúa trên ngả đường đan viện.
Với tôi, cám dỗ là nhìn thịt xương chị và dừng lại đó. Tôi cần phải thấy cả tính thần linh trong chị nữa, một tính hiện thực không kém. Chúa Giêsu vừa thần linh vừa nhân bản thế nào, thì chúng ta cũng thế. Mỗi chúng ta đều là một linh hồn có thân xác. Mỗi chúng ta đều là hai thế giới, cả hữu hình lẫn vô hình. Đối với người Kitô hữu đã đạt tới trạng thái giác ngộ, điều bạn thực sự có là cả điều bạn thấy lẫn điều bạn không thấy. Điều quan trọng là tôn trọng cả điều hữu hình lẫn điều vô hình, cả điều bất toàn lẫn điều hoàn toàn, cả điều dễ thương tổn lẫn điều đầy vinh quang. Điều bạn thấy là điều được ban cho bạn từ Đấng Tạo Hóa của mọi hữu thể.
(1) Muggle, trong bộ truyện Harry Potter của J. K. Rowling, là người không có một chút khả năng ảo thuật nào và cũng không được sinh ra trong thế giới ảo thuật.