Về cuộc tấn kích lấy mạng Bin Laden gần đây, sau những “hứng khởi” thuở đầu, người ta đang nêu ra nhiều câu hỏi trái ngược nhau. Sau đây là bài xã luận trên tập san America của các cha Dòng Tên Hoa Kỳ về vấn đề này.
Cái chết thảm của một tên cuồng tín từng đạo diễn nhiều cái chết của cả hàng nghìn người khác đang nêu ra một loạt vấn nạn đạo đức quan trọng. Cuộc tấn kích vào nơi ẩn trốn ở Abbottabad làm Osama bin Laden mất mạng có phải là một cuộc ám sát không? Hay toán Người Nhái của Hải Quân chỉ nên theo lệnh bắt sống Bin Laden, nếu có thể, để đem hắn ra xử về các tội khủng bố giết người mà hắn đã ra lệnh? Hay liệu ý định của toán binh sĩ và của Tổng Thống, người đã ra lệnh cho họ, là giết hay bắt giữ có quan trọng không?
Có người đã ủng hộ việc thẳng thừng ám sát Bin Laden, một kẻ đã tuyên bố rõ ý định của mình là theo đuổi cuộc thánh chiến giết người chống lại Phương Tây, nếu việc đó chỉ nhằm bảo vệ mạng sống các người vô tội khác và chặn trước các hỗn loạn trong tương lai. Nhưng ngay cả khi cho phép một luật trừ để tiền trảm hậu tấu (summary execution) Bin Laden đi chăng nữa, một luật trừ mà phần đông người Hoa Kỳ xem ra rất sẵn sàng ban cấp, ta vẫn phải tự hỏi liệu việc ban cấp luật trừ ấy có nên trở thành qui luật hay không. Từng một thời phê phán những vụ giết người không cần xét xử (extrajudicial) trong “Các Cuộc Chiến Bẩn Thỉu” ở Châu Mỹ Latinh hồi hai thập niên 1970 và 1980, người Hoa Kỳ hiện nay đã đánh mất ức chế của họ khi phải đương đầu với những người khủng bố Hồi Giáo quá khích. Hiệp Chúng Quốc, nước mà trước đây không lâu từng kết án việc người Do Thái giết người có nhắm trước nhằm vào những tên bị coi là khủng bố, xem ra không còn băn khoăn gì khi phải ra lệnh những cuộc tấn công đánh vào những người bị coi là thù địch. Khi cho phép các mưu toan ám sát nhằm vào các lãnh tụ bị nghi ngờ là khủng bố, Hiệp Chúng Quốc đang thừa nhận các phương pháp mà mình cho là đáng khiển trách trong các tổ chức khủng bố.
Những vụ ám sát do nhà nước ra lệnh vốn không phải là vô tiền khóang hậu trong lịch sử Hiệp Chúng Quốc. Ủy ban do Thượng Nghị Sĩ Frank Church cầm đầu, được thành lập năm 1975, để điều tra các vụ ám sát do chính phủ Mỹ bảo trợ, đã khám phá ra một danh sách khá dài các lãnh tụ nước ngoài bị nhắm trước để loại trừ. Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam, Patrice Lumumba của Congo và Fidel Castro của Cuba là những người ở trong số các nạn nhân nổi bật nhất. Các khám phá của Ủy Ban Church đã làm ngỡ ngàng cả nước đến nỗi mọi tổng thống từ Jimmy Carter tới Bill Clinton đều đã ban hành nhiều lệnh hành pháp cấm các cuộc ám sát do chính phủ ra lệnh.
Với việc tuyên chiến chống khủng bố cách nay 10 năm, mọi sự đã thay đổi. Trong vòng một tuần sau cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001, Quốc Hội đã thông qua Đạo Luật Cho Phép Và Sử Dụng Lực Lượng Quân Sự, dành quyền cho tổng thống được đưa ra “mọi hành động cần thiết và thích đáng” chống lại Al-Quaeda và các tổ chức khủng bố khác. Thực tế, đó là một cuộc tuyên chiến.
Kể từ ngày đó, các vụ giết người có nhắm trước, mà trong ngữ cảnh không phải là quân sự, người ta quen gọi là ám sát, đã phát triển hoang dã như nấm dại. Từ năm 2001, 1,500 người bị nghi là khủng bố đã bị giết bởi máy bay không người lái có khả năng chính xác gấp nhiều lần so với việc ném bom qui ước hay tấn công bằng hỏa tiễn, vì dùng vũ khí được điều khiển bằng tia laser. Việc thay đổi chính phủ vào năm 2008 chỉ đã mang lại một nới rộng thêm cho việc giết người có nhắm trước. Trong hai năm qua, Ông Obama đã ra lệnh tấn công 4 lần nhiều hơn George W. Bush trong sốt 8 năm cầm quyền.
Thiệt mạng lây (collateral damage) do những cuộc tấn kích này gây ra từng được người ta làm rùm beng: vụ giết khoảng 20 người Pakistan gần đây khi họ đang dự một cuộc họp hội đồng nông thôn, chẳng hạn, và hàng tá mạng sống vô tội bị cất đi trong các cuộc tấn công trước đây nhằm vào Bin Laden. Nhưng thiệt hại lây lan lớn nhất có lẽ là thiệt hại gây ra cho các nguyên tắc đạo đức mà xưa nay Hiệp Chúng Quốc vẫn coi làm trọng.
Lý lẽ có nguyên tắc chống lại việc giết người có nhắm trước là như sau: nó mở đường cho những vụ sát nhân bí mật, võ đoán, trong đó những người ra lệnh không cần phải tính sổ. Có cả một cái sườn trơn dốc dẫn người ta tuột xuống một quyền hành bạo chúa từ việc hành pháp ra lệnh xử tử “hợp lý” những kẻ thù được biết tới một cách công khai. Tổng thống Obama vốn từng nới rộng thẩm quyền của ông trong việc ám sát những công dân Hoa Kỳ làm khủng bố. Ông vốn được coi là người biết tự chế, nhưng chuyện gì sẽ xẩy ra nếu một ai đó ít suy nghĩ hơn hay ít tự chế hơn ngồi vào vị trí ông? Và chuyện gì nữa nơi những người thi hành các “cuộc hành quân đen” dưới thẩm quyền tổng thống? Người vô tội từng bị sát hại một khách không cố ý trong các cuộc hành quân như thế, và những người tấn công đôi khi xử tử lầm “mục tiêu”. Những cái chết ấy đủ là lý do để ta cảnh giác đối với chính sách giết người có nhắm trước. Nhưng lý tưởng của một chính quyền tự do, mà tại tâm điểm của nó là nguyên tắc bác bỏ, không dành cho nhà cai trị một quyền lực võ đoán đối với sinh mạng con người, càng nên khiến người Hoa Kỳ thận trọng hơn.
Cuối Thế Chiến II, Tổng Thống Harry Truman khăng khăng đòi để các lãnh tụ Quốc Xã, vốn phải chịu trách nhiệm về thảm họa vĩ đại nhất của thế kỷ vừa qua, được đem ra xử tại Nuremburg hơn là bị treo cổ mà không cần xét xử như có người đề nghị. Ấy thế nhưng, việc lên cấp an ninh quốc gia trong thời khủng bố kéo dài này đã và đang thay đổi qui luật. Trước khi Hiệp Chúng Quốc chấp nhận việc giết người có nhắm trước làm phương thức đáp trả có tính tiêu chuẩn trong cuộc “chiến tranh” mới nhất hiện này, họ nên suy nghĩ sâu xa hơn về vấn đề này. Những trường hợp khó khăn hay đẻ ra các chính sách bậy. Các nguyên tắc của Hoa Kỳ và lịch sử dài suy tư đạo đức của Phương Tây gợi cho ta điều này: thói quen đó không bao giờ nên trở thành qui luật.
23 tháng 5 năm 2011.
Cái chết thảm của một tên cuồng tín từng đạo diễn nhiều cái chết của cả hàng nghìn người khác đang nêu ra một loạt vấn nạn đạo đức quan trọng. Cuộc tấn kích vào nơi ẩn trốn ở Abbottabad làm Osama bin Laden mất mạng có phải là một cuộc ám sát không? Hay toán Người Nhái của Hải Quân chỉ nên theo lệnh bắt sống Bin Laden, nếu có thể, để đem hắn ra xử về các tội khủng bố giết người mà hắn đã ra lệnh? Hay liệu ý định của toán binh sĩ và của Tổng Thống, người đã ra lệnh cho họ, là giết hay bắt giữ có quan trọng không?
Có người đã ủng hộ việc thẳng thừng ám sát Bin Laden, một kẻ đã tuyên bố rõ ý định của mình là theo đuổi cuộc thánh chiến giết người chống lại Phương Tây, nếu việc đó chỉ nhằm bảo vệ mạng sống các người vô tội khác và chặn trước các hỗn loạn trong tương lai. Nhưng ngay cả khi cho phép một luật trừ để tiền trảm hậu tấu (summary execution) Bin Laden đi chăng nữa, một luật trừ mà phần đông người Hoa Kỳ xem ra rất sẵn sàng ban cấp, ta vẫn phải tự hỏi liệu việc ban cấp luật trừ ấy có nên trở thành qui luật hay không. Từng một thời phê phán những vụ giết người không cần xét xử (extrajudicial) trong “Các Cuộc Chiến Bẩn Thỉu” ở Châu Mỹ Latinh hồi hai thập niên 1970 và 1980, người Hoa Kỳ hiện nay đã đánh mất ức chế của họ khi phải đương đầu với những người khủng bố Hồi Giáo quá khích. Hiệp Chúng Quốc, nước mà trước đây không lâu từng kết án việc người Do Thái giết người có nhắm trước nhằm vào những tên bị coi là khủng bố, xem ra không còn băn khoăn gì khi phải ra lệnh những cuộc tấn công đánh vào những người bị coi là thù địch. Khi cho phép các mưu toan ám sát nhằm vào các lãnh tụ bị nghi ngờ là khủng bố, Hiệp Chúng Quốc đang thừa nhận các phương pháp mà mình cho là đáng khiển trách trong các tổ chức khủng bố.
Những vụ ám sát do nhà nước ra lệnh vốn không phải là vô tiền khóang hậu trong lịch sử Hiệp Chúng Quốc. Ủy ban do Thượng Nghị Sĩ Frank Church cầm đầu, được thành lập năm 1975, để điều tra các vụ ám sát do chính phủ Mỹ bảo trợ, đã khám phá ra một danh sách khá dài các lãnh tụ nước ngoài bị nhắm trước để loại trừ. Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam, Patrice Lumumba của Congo và Fidel Castro của Cuba là những người ở trong số các nạn nhân nổi bật nhất. Các khám phá của Ủy Ban Church đã làm ngỡ ngàng cả nước đến nỗi mọi tổng thống từ Jimmy Carter tới Bill Clinton đều đã ban hành nhiều lệnh hành pháp cấm các cuộc ám sát do chính phủ ra lệnh.
Với việc tuyên chiến chống khủng bố cách nay 10 năm, mọi sự đã thay đổi. Trong vòng một tuần sau cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001, Quốc Hội đã thông qua Đạo Luật Cho Phép Và Sử Dụng Lực Lượng Quân Sự, dành quyền cho tổng thống được đưa ra “mọi hành động cần thiết và thích đáng” chống lại Al-Quaeda và các tổ chức khủng bố khác. Thực tế, đó là một cuộc tuyên chiến.
Kể từ ngày đó, các vụ giết người có nhắm trước, mà trong ngữ cảnh không phải là quân sự, người ta quen gọi là ám sát, đã phát triển hoang dã như nấm dại. Từ năm 2001, 1,500 người bị nghi là khủng bố đã bị giết bởi máy bay không người lái có khả năng chính xác gấp nhiều lần so với việc ném bom qui ước hay tấn công bằng hỏa tiễn, vì dùng vũ khí được điều khiển bằng tia laser. Việc thay đổi chính phủ vào năm 2008 chỉ đã mang lại một nới rộng thêm cho việc giết người có nhắm trước. Trong hai năm qua, Ông Obama đã ra lệnh tấn công 4 lần nhiều hơn George W. Bush trong sốt 8 năm cầm quyền.
Thiệt mạng lây (collateral damage) do những cuộc tấn kích này gây ra từng được người ta làm rùm beng: vụ giết khoảng 20 người Pakistan gần đây khi họ đang dự một cuộc họp hội đồng nông thôn, chẳng hạn, và hàng tá mạng sống vô tội bị cất đi trong các cuộc tấn công trước đây nhằm vào Bin Laden. Nhưng thiệt hại lây lan lớn nhất có lẽ là thiệt hại gây ra cho các nguyên tắc đạo đức mà xưa nay Hiệp Chúng Quốc vẫn coi làm trọng.
Lý lẽ có nguyên tắc chống lại việc giết người có nhắm trước là như sau: nó mở đường cho những vụ sát nhân bí mật, võ đoán, trong đó những người ra lệnh không cần phải tính sổ. Có cả một cái sườn trơn dốc dẫn người ta tuột xuống một quyền hành bạo chúa từ việc hành pháp ra lệnh xử tử “hợp lý” những kẻ thù được biết tới một cách công khai. Tổng thống Obama vốn từng nới rộng thẩm quyền của ông trong việc ám sát những công dân Hoa Kỳ làm khủng bố. Ông vốn được coi là người biết tự chế, nhưng chuyện gì sẽ xẩy ra nếu một ai đó ít suy nghĩ hơn hay ít tự chế hơn ngồi vào vị trí ông? Và chuyện gì nữa nơi những người thi hành các “cuộc hành quân đen” dưới thẩm quyền tổng thống? Người vô tội từng bị sát hại một khách không cố ý trong các cuộc hành quân như thế, và những người tấn công đôi khi xử tử lầm “mục tiêu”. Những cái chết ấy đủ là lý do để ta cảnh giác đối với chính sách giết người có nhắm trước. Nhưng lý tưởng của một chính quyền tự do, mà tại tâm điểm của nó là nguyên tắc bác bỏ, không dành cho nhà cai trị một quyền lực võ đoán đối với sinh mạng con người, càng nên khiến người Hoa Kỳ thận trọng hơn.
Cuối Thế Chiến II, Tổng Thống Harry Truman khăng khăng đòi để các lãnh tụ Quốc Xã, vốn phải chịu trách nhiệm về thảm họa vĩ đại nhất của thế kỷ vừa qua, được đem ra xử tại Nuremburg hơn là bị treo cổ mà không cần xét xử như có người đề nghị. Ấy thế nhưng, việc lên cấp an ninh quốc gia trong thời khủng bố kéo dài này đã và đang thay đổi qui luật. Trước khi Hiệp Chúng Quốc chấp nhận việc giết người có nhắm trước làm phương thức đáp trả có tính tiêu chuẩn trong cuộc “chiến tranh” mới nhất hiện này, họ nên suy nghĩ sâu xa hơn về vấn đề này. Những trường hợp khó khăn hay đẻ ra các chính sách bậy. Các nguyên tắc của Hoa Kỳ và lịch sử dài suy tư đạo đức của Phương Tây gợi cho ta điều này: thói quen đó không bao giờ nên trở thành qui luật.
23 tháng 5 năm 2011.