Đó là tựa đề một cuốn sách của Đức Tổng Giám Mục Giampaolo Crepaldi, hiện là thư ký Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Binh, được nhà Cantagalli, Siena, xuất bản năm 2010. Viết lời giới thiệu cho cuốn sách là ông Fontana, hiện là giám đốc tổ chức Đài Quan Sát Quốc Tế Hồng Y Văn Thuận Về Học Thuyết Xã Hội Của Giáo Hội.

Fontana cho hay vấn đề nền tảng được cuốn sách bàn tới là vị thế của chính trị, chính trị là gì. Để trả lời các câu hỏi ấy, tác giả đã đưa ra một cái nhìn siêu hình đối với chính trị, làm căn bản tri thức luận cho nền tảng thần học của chính trị. Nói theo kiểu nói của Horrkheimer trong cuốn “Tiếc Nuối Điều Hoàn Toàn Khác Hơn Là Cái Tôi" (Nostalgia of the totally other-than-self), và Joseph De Maistre trước đó, chính trị trước nhất và trên hết là một vấn đề thần học. Đây là tiền đề chính của cuốn sách và chính trên căn bản này, nó thách thức người Công Giáo trong chính trị. Mở ra trước mắt ta trên căn bản cách tiếp cận với sự vật này là cả một loạt các vấn đề có tính nền tảng. Ta hãy xem một số vấn đề ấy.

Augusto Del Noce (1) khẳng định rằng đức tin Kitô Giáo tiền giả thiết một nền siêu hình học, và nền triết học Kitô Giáo, hay diễn trình triết lý trong đức tin, không là gì khác hơn việc trở nên minh nhiên đối với nền siêu hình ấy. Muốn tiếp tục "ở trong siêu hình", triết học cần phải tiếp tục "ở trong đức tin", vì nếu tách rời khỏi đó, và đây là điều rất gần gũi với Ratzinger, nó tất yếu trở thành chủ nghĩa duy nghiệm (positivism) và do đó duy tín (fideism) bởi vì bất cứ điều gì không hiển nhiên một cách thực nghiệm, đều do tin mà có. Theo nghĩa văn hóa và do đó chính trị, khó khăn chính trong cuộc đối thoại giữa người Công Giáo và "những người khác" chính là vấn đề siêu hình. Khi người Công Giáo nói về con người, về gia đình, về các mối tương quan, về cộng đồng, về ích chung, về thiên nhiên, về linh hồn và sự sống v.v... họ hiểu chúng theo nghĩa siêu hình, trong khi "những người khác" không còn hiểu chúng theo nghĩa đó nữa. Nếu, vì để đối thoại với những người khác ấy, mà người Công Giáo ngưng không hiểu chúng theo nghĩa siêu hình nữa, thì tất yếu họ sẽ phải hiểu chúng theo nghĩa chức năng hay duy chủ quan và chính lúc đó, họ đã mất cả chì lẫn chài.

Chính trị cũng thế phải được người Công Giáo hiểu theo cùng một nghĩa như vậy, dù không còn gì xa cách hơn đối với sự khôn ngoan theo qui ước thời nay. Đây là điểm quan trọng cần có để hiểu cuốn sách của Đức TGM Crepaldi, một cuốn sách có giá trị vì đặt căn bản trên tiền đề này là những vấn đề chủ yếu của chính trị chính là những vấn đề có ý nghĩa tuyệt đối.

Khi người Công Giáo nói tới "đức tin" họ cũng hiểu nó theo nghĩa siêu hình. Không những đức tin tiền giả định siêu hình, mà siêu hình cũng tiền giả định đức tin. Thực thế, trong siêu hình, dữ kiện đối với chúng ta chính là 'thể bất khả ảnh hưởng' (uninfluenceable) tức thể mà ta, dù có cố gắng bao nhiêu, cũng không thể nào tạo được một ảnh hưởng trên đó. Đối với đức tin cũng thế: trong nó, ta không phải là các chủ thể có thể đụng tới 'thể bất khả ảnh hưởng', nhưng chính thực thể này đột xuất trong đời ta. Thái độ siêu hình không bao hàm "việc làm" (a doing), nhưng như Ratzinger từng viết trong cuốn "Dẫn Nhập Vào Kitô Giáo", nó bao hàm "việc hiện hữu" (a being), việc cởi mở đối với Lời từng tự mạc khải, y như đức tin vậy.

Do đó, cuốn sách này trình bày chính trị một cách khác hẳn với dư luận hiện nay. Nó cho ta thấy không thể nào có sự canh tân đối với việc hiện diện chính trị của người Công Giáo, nếu trước nhất họ không phục hồi được một cách đầy ý thức cái hiểu truyền thống về chính trị này. Đây không phải là một cố gắng nhằm tạo lập một cộng đồng, nhưng nó tiền giả định rằng cộng đồng đang được một điều gì khác tạo lập nên. Ở đây, ta giáp mặt trực tiếp với một cuộc đụng đầu chính do cuốn sách này báo hiệu: sự đụng đầu giữa một nền chính trị Công Giáo hoàn toàn chấp nhận tính thế tục, hay một sự trưởng thành của dân chủ, như kiểu nói của Dossetti, đến độ dám nghĩ rằng nó có thể tự thiết lập mình một cách độc lập, và một nền chính trị Công Giáo, theo đó, như Đức Bênêđíctô từng nói, thế giới vô thần không thể là một thế giới trung lập, mà là một thế giới không có Thiên Chúa.

Đây là điểm chủ yếu cho vấn đề nổi bật về tính thế tục, về dân chủ và quyền tự lập của các thực tại trần thế được Đức TGM Crepaldi bàn tới rất hay và rất sâu sắc trong phần dẫn nhập của cuốn sách. Một cách tiệm tiến, trong mấy thập niên qua, một khuynh hướng sâu sắc và phức tạp càng ngày càng lớn mạnh, dẫn người Công Giáo tới chỗ đạt được sự trưởng thành kia về dân chủ, hiểu như một toàn diện tính siêu hình hoàn hảo của thể hữu hạn đối với thể vô hạn. Không phải là vô tình khi, trong phần dẫn nhập, Đức TGM Crepaldi nhắc tới 3 công trình của thập niên 1970. Ba công trình này, dù bắt đầu từ những khởi điểm khác nhau, nhưng đều bác bỏ chủ trương này. Theo ý kiến ngài, huấn quyền của Đức Bênêđíctô XVI, vốn nằm trong chính dòng tư tưởng của các vị tiền nhiệm, đã dứt khoát soi sáng các hiểu lầm này, vì huấn quyền này chủ trương rằng thế giới vô thần không phải là thế giới trung lập, mà là thế giới không có Thiên Chúa. Thiển nghĩ, ta nên nhấn mạnh điểm này vì nó hết sức nền tảng: lý trí mà không có đức tin không phải là lý trí trung lập, nó nguyên tuyền là lý trí không có đức tin. Nó tự nâng nó lên hàng một tuyệt đối tính mới bao lâu nó nhìn và xây dựng ra một thế giới "không có Thiên Chúa". Có tính tuyệt đối về một thế giới xây dựng trên Thiên Chúa, nhưng cũng có tính tuyệt đối về một thế giới xây dựng mà không có Thiên Chúa. Điều này dĩ nhiên cũng đúng đối với lý lẽ chính trị.

Một trong những phần đáng lưu ý của cuốn sách là chương nói về việc mở rộng lý lẽ chính trị và các ý thức hệ mới, trong đó, hiển nhiên là các hậu quả của một ngôn ngữ chính trị đã bị lấy hết chiều kích siêu hình. Khi Đức Thánh Cha nói tới tính ‘có thể duy trì được’ (sustainability), ngài không sử dụng từ ngữ này theo nghĩa của Latouche (2) hay nghĩa trong phúc trình của các cơ quan chuyên môn Liên Hiệp Quốc; khi ngài nói tới 'sự chừng mực’ (moderation), ngài không có ý hiểu nó theo nghĩa của các phong trào ủng hộ môi sinh hay bảo vệ thú vật; khi ngài nói tới 'bảo vệ sáng thế’ (safeguarding creation) ngài không có ý nói theo kiểu của phong trào Hòa Bình Xanh; khi ngài nhắc nhở về hòa bình, ngài không sử dụng những khẩu hiệu được nghe thấy tại cuộc diễn hành Perugia-Assisi (3). Tuy nhiên, điều hiển nhiên là các người Công Giáo thường lại hay thích những nghĩa như những nghĩa này, những nghĩa, vì giảm thiểu hay loại bỏ mọi chiều kích siêu hình trong các ý niệm này, nên kết cuộc, đã triệt tiêu ý nghĩa chân thực, không dành chỗ cho bất cứ ý nghĩa tôn giáo nào. Theo quan điểm ý niệm, tôn giáo mà không có chiều kích siêu hình đã tự đánh mất khả năng hít thở của mình. Cái khuynh hướng chạy theo chiều ngang trong ngôn ngữ chính trị không thể không có những hậu quả tiêu cực đối với chính trị trong hành động.

Như ta có thể đã thấy, khía cạnh rất quan trọng của vấn đề là khía cạnh tri thức luận. Nếu đức tin không là “nhận thức”, nó sẽ tự thêm cho nó một thứ nhận thức thuần lý từ bên ngoài, một thứ nhận thức tự nhận là độc lập, nhưng thực ra chẳng độc lập chút nào, vì như ta đã thấy, suy luận bên ngoài đức tin là rơi vào chủ nghĩa duy nghiệm và thế giới vô thần là thế giới không Thiên Chúa, chứ không phải là thế giới trung lập. Đức tin như thế là đức tin đã bị tống khứ ra ngoài lãnh vực nhận thức. Ngày nay, đang có một thứ tri thức luận thế tục, hay đúng hơn, một chủ nghĩa tri thức luận thế tục, trong đó, người ta đòi dành cho nhận thức thuần lý một tính độc lập đối với nhận thức đưc tin. Điều này thực ra có nghĩa là loại bỏ đức tin ra ngoài cuộc sống, một việc đem lại nhiều hệ luận chính trị tiêu cực.

Đó là lý do khiến Đức TGM Crepaldi cho rằng sự hiện diện chính trị của người Công Giáo đang bắt đầu lội ngược dòng với chính trị đúng nghĩa. Ngài không chỉ nói rằng các chủng viện, các đại học Công Giáo, các viện nghiên cứu tôn giáo, các cộng đồng giáo phận v.v… không còn huấn luyện người để họ hiện diện trong chính trị nữa. Điều ấy tuy có đúng, nhưng xem ra, ngài còn muốn nhìn tận gốc để thấy rằng việc huấn luyện chính trị chưa diễn ra vì người Công Giáo không còn nhìn nhận nơi đức tin một thành tố tri thức nào cho chính trị: họ đã chấp nhận tính trung lập trong các vấn đề chính trị trong tương quan với viễn tượng đức tin.

Tưởng nên chú ý việc Đức Bênêđíctô XVI hết sức nhấn mạnh tới điểm này. Nhiều lời tuyên bố của ngài dành để đề cập tới muôn vàn các chủ đề khác nhau đều cùng có chung sợi chỉ xuyên suốt rõ rệt này: ngài phê phán việc tuyệt đối hóa phương pháp phê bình sử học; ngài nhất quán cho rằng công việc của các thần học gia không bao giờ chỉ có tính ý niệm, vì đức tin Kitô Giáo luôn tin vào Thiên Chúa, Sự Thật và Tình Yêu; ngài khẳng định rằng: chỉ sự khôn ngoan nào mở đường cho ta bước vào huyền nhiệm mới là nhận thức chân thực; cũng theo ngài, không có Thiên Chúa sẽ không có nhận thực chân thực về thực tại; ngài cũng giải thích cho ta thế nào mới là Thánh Truyền thực sự: không phải là việc bóp méo Thánh Kinh, nhưng là việc soi sáng nó.

Điều này giúp ta hiểu đầy đủ lý do khi cho chủ đề “các nguyên tắc không thể thương thảo” vào sách. Đức TGM Crepaldi nhấn mạnh các nguyên tắc này rất nhiều và cũng đem lại cho các chính trị gia một vài gợi ý rất chính xác về tác phong. Tuy nhiên, ngài không bao giờ giản lược các nguyên tắc này thành các gợi ý có tính chức năng; thực vậy, các nguyên tắc này cho thấy một nền tảng tuyệt đối của chính trị mà chỉ đức tin Kitô giáo mới có khả năng bảo đảm. Các nguyên tắc này không phải là tường thành cuối cùng để ta giữ thế thủ ở đàng sau chúng, nhưng là điểm mạnh để “phục hồi”, được phát động để tạo chỗ đứng cho Thiên Chúa trong xã hội. Do đó, ta cũng có thể hiểu cuốn sách này đã bàn tới vấn đề đa nguyên tôn giáo ra sao, duy trì “bổn phận” của xã hội ra sao đối với tôn giáo đích thực.

Chủ đề của cuốn sách, vì thế, là liệu kinh thành con người có được thiết lập một cách xứng hợp mà không cần tham chiếu kinh thành Thiên Chúa hay không. Đây là vấn đề độc lập của thực tại trần thế so với thực tại thiêng liêng, của tự nhiên so với nòi giống, của chính trị so với tôn giáo. Đây là một chủ đề nền tảng cho mọi thời, nhưng nhất là cho thời đại ta, một thời đại xem ra đã đánh mất cảm thức bản thân về các vấn đề hiện nằm trong tay, không muốn đề cập tới các giải pháp cho vấn đề ấy. Thánh Augustinô từng xem sét các nguyên nhân đứng đàng sau sự sụp đổ của Đế Quốc Rôma. Ngài bênh vực Kitô hữu chống lại những ai tố cáo họ là nguyên cớ chính và cho rằng đế quốc sụp đổ là do những thói xấu mới đến thay thế các đức hạnh cổ truyền. Nói như thế có nghĩa là trước Kitô Giáo, đức hạnh từng đã có rồi. Về phương diện này, Gilson nhận định: thánh nhân chỉ rõ điều trên để người ta hiểu rõ có một mục tiêu siêu nhiên đặc thù trong các đức hạnh Kitô Giáo. Đức hạnh Kitô Giáo là để tạo nên công dân Kitô Giáo cho một kinh thành khác. Nhưng khi làm thế, Kitô Giáo cũng đã ủng hộ mọi lực lượng xây dựng của xã hội trần thế và xã hội này không cần phải bác bỏ việc tự coi mình như một giai đoạn dẫn tới cõi đời đời. Đây là lý do khiến ta lưu ý tới một câu rất quan trọng trong tác phẩm của Đức TGM Crepaldi ở trang 63; một câu coi như đại diện cho cả cuốn sách: “Khi một người Công Giáo trong chính trị cố gắng minh xác vấn đề thế tục tính cho chính mình, tôi nghĩ ông ta nên tự hỏi mình hai câu hỏi: câu thứ nhất: phải chăng Chúa Kitô chỉ có ích đối với việc xây đắp sự hợp quần xã hội sao cho hoà hợp với nhân phẩm con người, hay Người là người không thể thiếu được. Câu thứ hai: liệu sự sống đời đời, sau khi chết phần xác, có bất cứ mối tương quan nào với việc cộng đồng tổ chức đời sống hiện nay trong xã hội không”.

Ghi chú

(1) Sinh 11-08-1910, qua đời 30-12-1989 tại Rôma, một trong những nhà trí thức hàng đầu của Ý sau Thế Chiến II.

(2) Một giáo sư người Pháp đã về hưu. Ông dạy tại Đại Học Nam Paris và là một nhà phê bình xã hội tiêu thụ.

(3) Hàng năm, tại Perugia và Assisi, vào ngày 8 tháng 10, ngày Thánh Phanxicô Assisi qua đời, đều có cuộc diễn hành hòa bình. Cuộc diễn hành dài 20 cây số, được nhiều người đủ mọi mầu sắc chính trị, đến từ nhiều quốc gia, tầng lớp xã hội, tham gia.