Theo Phát Ngôn Viên Tòa Thánh, Linh Mục Federico Lombardi, không nhân chứng nào nổi bật hơn Đức Bênêđíctô XVI khi lên tiếng về Chân Phúc Gioan Phaolô II. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên trong lịch sự hiện đại đã tôn phong vị tiền nhiệm của mình lên hàng chân phúc, và trong hơn hai thập niên, từng là một trong những cộng tác viên thân cận nhất của vị này.
Để chứng minh cho nhận định của mình, Cha Lombardi nhắc lại cuộc phỏng vấn truyền hình tại Ba Lan vào tháng 10 năm 2005, trong đó, Đức Bênêđíctô XVI cho rằng Đức Gioan Phaolô II đã tạo ra một mẫn cảm mới đối với các giá trị luân lý cũng như đối với tầm quan trọng của tôn giáo trên thế giới. Chính vì thế, bất chấp các dị biệt cố hữu và việc họ không thừa nhận vai trò của người kế vị Thánh Phêrô, mọi Kitô hữu đều nhìn nhận ngài là phát ngôn viên của Kitô Giáo, và là phát ngôn viên của các giá trị vĩ đại của nhân loại đối với những người không phải là Kitô Hữu. Ngài còn biết cách làm cho người trẻ hứng khởi đối với Chúa Kitô, đối với Giáo Hội và các giá trị khó nắm giữ. Chính nhân cách và sự lôi cuốn của ngài đã động viên được giới trẻ thế giới dám dấn thân vào chính nghĩa Thiên Chúa và tình yêu Chúa Kitô.
Đức Bênêđíctô XVI cũng cho rằng sứ mệnh của ngài là tiếp nối di sản của vị tiền nhiệm: không ban hành nhiều văn kiện mới, mà là làm sao để các văn kiện của vị tiền nhiệm được thẩm thấu vì đó là một kho tàng phong phú. Các văn kiện này là những bản giải thích Công Đồng Vatican II hoàn toàn chân thực. Đức Gioan Phaolô II là người của Vatican II. Ngài nội tâm hóa tinh thần và lời nói của Công Đồng này. Qua các trước tác, ngài cho ta thấy rõ Công Đồng muốn gì và không muốn gì. Điều này giúp ta trở thành Giáo Hội của thời ta và của tương lai. Đức Bênêđíctô thực thi “di sản” này ngay từ những ngày đầu triều đại giáo hoàng của mình, không coi nó chỉ như những dấu mốc, mà thực sự như những linh hứng thiêng liêng mạnh mẽ, phát xuất từ chứng tá, cuộc đời và sự hiện diện thiêng liêng liên tục của ngài trên đường tiến bước của Dân Chúa.
Đức Gioan Phaolô II luôn gần gũi đối với tôi
Thiển nghĩ, nhân dịp này, ta nên đọc lại nội dung cuộc phỏng vấn ngày 16 tháng 10 năm 2005, ngày được Quốc Hội Ba Lan chọn làm Ngày Gioan Phaolô II, cũng là ngày Đức Hồng Y Karol Wojtyla được bầu làm giáo hoàng.
Hỏi: Chúng con cám ơn Đức Thánh Cha đã ban cho chúng con cuộc phỏng vấn vằn vỏi này nhân dịp Ngày Gioan Phaolô II được cử hành hôm nay tại Ba Lan.
Vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức Hồng Y Karol Wojtyla trở thành giáo hoàng, và từ ngày ấy, như Đức Thánh Cha đã biết, trong suốt hơn 26 năm, đức Gioan Phaolô II, trong tư cách Kế Nhiệm Thánh Phêrô, đã cùng các vị giám mục và hồng y lãnh đạo Giáo Hội. Trong số các vị hồng y, Đức Thánh Cha cũng có mặt, và được vị tiền nhiệm trân trọng quí mến: một người được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô viết trong cuốn :"Hãy Chỗi Dậy, Và Lên Đường” rằng: “Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì sự hiện diện và trợ giúp của Đức Hồng Y Ratzinger. Ngài quả là một người bạn thực sự”.
Thưa Đức Thánh Cha, tình bạn này đã khởi đầu như thế nào và Đức Thánh Cha gặp Đức Hồng Y Karol Wojtyla khi nào?
Đức Bênêđíctô XVI: Tôi gặp ngài trong hai cuộc mật nghị: tiền mật nghị và mật nghị chính thức năm 1978. Lẽ dĩ nhiên, tôi đã từng nghe về Đức Hồng Y Wojtyla trước đó, nhất là trong bối cảnh thư từ qua lại giữa các giám mục Ba Lan và các giám mục Đức năm 1965. Các đức hồng y Đức đã cho tôi hay các công trạng và đóng góp lớn lao của Đức Hồng Y Giáo Phận Krakow và ngài là linh hồn của những thư từ đó ra sao. Tôi cũng đã được các bằng hữu ở đại học của ngài cho nghe về tầm cỡ triết gia và tư tưởng gia của ngài. Nhưng như tôi đã nói, cuộc gặp gỡ đích thân đầu tiên xẩy ra trong dịp có mật nghị năm 1978. Tôi thích ngài ngay từ đầu và tạ ơn Chúa, không phải do công tôi, mà chính ngài đã làm thân với tôi ngay lập tức lúc đó.
Tôi rất biết ơn đối với cử chỉ đi bước đầu của ngài đối với tôi ấy. Trên hết, khi đứng ngắm ngài cầu nguyện, tôi thấy và hiểu rõ ngài quả là người của Thiên Chúa. Ấn tượng đầu tiên của tôi là: người này sống với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa. Tôi cũng rất có ấn tượng về sự thân ái không thiên kiến mà ngài đã tỏ ra trong lúc làm quen với tôi. Ngài lên tiếng nhiều dịp trong các cuộc gặp gỡ tiền mật nghị của các vị hồng y, và chính trong những lúc như thế, tôi có cơ hội được cảm nghiệm tầm cỡ tư tưởng gia của ngài. Không dùng những lời khoa trương, ngài đã tạo được mối liên hệ chân tình và ngay sau khi được bầu làm giáo hoàng, ngài cho vời tôi tới Rôma nhiều lần để chuyện trò và sau cùng đã cử nhiệm tôi làm tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin.
Hỏi: Như vậy, việc cử nhiệm và triệu về Rôma không phải là một điều bất ngờ?
Đức Bênêđíctô XVI: Việc ấy rất khó đối với tôi, vì khi được cử làm giám mục Munich, với lễ tấn phong long trọng tại nhà thờ chính tòa Munich, tôi cảm thấy có bổn phận đối với giáo phận, gần như một cuộc hôn nhân vậy. Tôi thấy mình gắn chặt với giáo phận ấy. Cũng có một số vấn đề khó khăn chưa được giải quyết và tôi không muốn rời giáo phận trong tình trạng ấy. Tôi đem mọi chuyện ấy thành thật thảo luận với Đức Thánh Cha, và ngài hết sức có tình cha con đối với tôi. Ngài cho tôi thì giờ để suy nghĩ và cho hay chính ngài cũng muốn suy nghĩ. Cuối cùng, ngài thuyết phục để tôi tin rằng đó là ý Chúa. Do đó, tôi đã chấp nhận lời mời gọi và trách nhiệm lớn lao này, một trách nhiệm không dễ dàng gì và quả thực vượt quá khả năng của tôi. Nhưng tin vào sự tin cậy đầy tình cha con của Đức Giáo Hoàng và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, tôi đã thưa vâng.
Hỏi: Kinh nghiệm này kéo dài hơn 20 năm…
Đức Bênêđíctô XVI: Đúng thế, tôi tới (nhậm chức) hồi tháng 2 năm 1982, và nó chỉ chấm dứt với việc qua đời của Đức Giáo Hoàng vào năm 2005.
Hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, theo ý kiến của Đức Thánh Cha, đâu là những giờ phút có ý nghĩa nhất trong triều đại giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II?
Đức Bênêđíctô XVI: Ta có thể xét triều đại giáo hoàng ấy theo 2 viễn tượng: một hướng ra bên ngoài, hướng ra thế giới, một hướng vào bên trong, hướng về Giáo Hội. Đối với tôi, hướng ra thế giới, hình như là thế này: qua các diễn văn, qua con người, qua sự hiện diện và qua khả năng thuyết phục của ngài, Đức Thánh Cha đã tạo được một sự mẫn cảm mới đối với các giá trị luân lý, đối với tầm quan trọng của tôn giáo trong thế giới. Điều ấy đã tạo ra một sự mở cửa mới, một mẫn cảm mới đối với tôn giáo và nhu cầu phải có chiều kích tôn giáo nơi con người. Trên hết, tầm quan trọng của Giám Mục Rôma đã tăng tiến rất nhiều.
Bất chấp các dị biệt và bất chấp việc họ không thừa nhận Vị Kế Nhiệm Thánh Phêrô, mọi Kitô hữu đều nhìn nhận rằng ngài là phát ngôn viên của Kitô Giáo. Nói về bình diện quốc tế, không một người nào trên thế giới có thể nhân danh Kitô Giáo để lên tiếng như thế và đem lại tiếng nói và sức mạnh cho thực tại Kitô Giáo trên thế giới ngày nay như vậy. Ngài cũng là phát ngôn viên của các giá trị vĩ đại của nhân loại cho những người và tôn giáo không phải là Kitô Giáo. Ngài đã tạo ra được một bầu khí đối thoại giữa các tôn giáo lớn và một cảm thức trách nhiệm chung của chúng ta đối với thế giới. Ngài cũng nhấn mạnh rằng bạo lực và tôn giáo không thể đi đôi với nhau và ta phải cùng nhau tìm ra con đường dẫn tới hòa bình, cùng nhận trách nhiệm chung đối với nhân loại.
Về tình hình Giáo Hội, tôi muốn nói rằng: trước nhất, ngài biết cách truyền vào giới trẻ một lòng hứng khởi đối với Chúa Kitô. Đây là một điều mới mẻ, nếu ta nghĩ tới giới trẻ của cuối thập niên 60 và thập niên 70. Giới trẻ ấy đã trở nên hứng khởi đối với Chúa Kitô, Giáo Hội và các giá trị khó nắm. Chính nhân cách và sức lôi cuốn của ngài đã động viên được giới trẻ thế giới dám dấn thân cho chính nghĩa Thiên Chúa và tình yêu Chúa Kitô. Trong Giáo Hội, ngài đã tạo được lòng yêu mến mới đối với Phép Thánh Thể.
Chúng ta vẫn còn đang trong năm Thánh Thể, được chính ngài mời gọi với một lòng kính mến cao độ. Ngài đã tạo được một ý thức mới đối với sự cao cả của lòng Chúa thương xót; ngài đã thâm hậu hóa lòng sùng kính Đức Mẹ. Nhờ thế, ngài đã hướng dẫn ta biết nội tâm hóa đức tin và, cùng một lúc, biết cách đạt được hiệu năng lớn hơn. Dĩ nhiên, ta cần nhắc tới sự đóng góp chủ yếu của ngài vào những thay đổi lớn lao trên thế giới trong năm 1989, làm cho chủ nghĩa xã hội xụp đổ.
Hỏi: Trong diễn trình gặp gỡ và đích thân thảo luận của Đức Thánh Cha với Đức Gioan Phaolô II, điều gì gây ấn tượng nhất nơi Đức Thánh Cha? Đức Thánh Cha có thể cho chúng con hay những buổi gặp gỡ cuối cùng trong năm nay với Đức Gioan Phaolô II không?
Đức Bênêđíctô XVI: Có. Vào những ngày cuối cùng, tôi được gặp ngài hai lần: một lần tại Bệnh Viện Gemelli, khoảng ngày 5 hay 6 tháng 2; và lần thứ hai là trước ngày ngài qua đời, ngay tại phòng của ngài. Trong lần gặp thứ nhất, Đức Giáo Hoàng đau đớn trông thấy, nhưng ngài hoàn toàn sáng suốt và rất tỉnh táo. Trước đó, tôi từng gặp ngài về một số việc cần ngài quyết định. Dù đau đớn trông thấy, Đức Thánh Cha vẫn theo sát một cách chăm chú những điều tôi trình bày. Ngài dùng ít lời cho tôi hay quyết định của ngài và ban phép lành cho tôi. Ngài chào tôi bằng tiếng Đức và xác nhận lòng tin cậy và tình bằng hữu đối với tôi.
Tôi hết sức cảm động thấy ngài kết hợp xiết bao với Chúa Giêsu đau khổ và can đảm chịu đau khổ như thế nào với Chúa và vì Chúa. Tôi cũng thấy rõ sự thanh thản nội tâm của ngài và ngài hoàn toàn tỉnh trí ra sao. Lần gặp thứ hai là trước ngày ngài qua đời: rõ ràng là ngài đang đau đớn khủng khiếp và đang được các bác sĩ và bạn bè chăm sóc. Ngài vẫn rất sáng suốt và ban phép lành cho tôi. Ngài không còn nói nhiều được nữa. Sự kiên nhẫn của ngài vào thời điểm đau đớn ấy là một bài học lớn lao cho tôi, giúp tôi thấy rằng ngài đã tin tưởng như thế nào vào bàn tay Thiên Chúa và ngài đã trao phó con người của ngài ra sao cho thánh ý Thiên Chúa. Bất chấp cái đau trông thấy, ngài vẫn thanh thản, vì ngài nằm trong bàn tay xót thương của Thiên Chúa.
Hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, trong các diễn văn của mình, Đức Thánh Cha hay nhắc tới khuôn mặt Đức Gioan Phaolô II, cho hay ngài là vị giáo hoàng vĩ đại, vị tiền nhiệm quá cố đáng kính. Chúng con luôn nhớ những lời Đức Thánh Cha phát biểu trong Thánh Lễ ngày 20 tháng 4 vừa qua, những lời đặc biệt dành cho Đức Gioan Phaolô II. Thưa Đức Thánh Cha, chính Đức Thánh Cha nói rằng, con xin trích dẫn: “như thể người đang nắm chặt tay tôi, tôi thấy ánh mắt tươi cười của ngài và như nghe thấy tiếng ngài nói, mà lúc đó, tôi coi như người nói thẳng với tôi một cách riêng: Đừng sợ!”. Thưa Đức Thánh Cha, sau cùng chúng con xin hỏi một câu có tính rất riêng tư: Đức Thánh Cha có tiếp tục cảm thấy sự hiện diện của Đức Gioan Phaolô II hay không,và nếu có, thì theo cách nào?
Đức Bênêđíctô XVI: Chắc chắn có. Tôi xin bắt đầu bằng cách trả lời phần đầu câu hỏi của ông. Nói về di sản của Đức Gioan Phaolô II, thoạt đầu, tôi quên không nhắc tới nhiều văn kiện ngài để lại cho chúng ta: 14 thông điệp, nhiều tông thư và văn kiện khác. Tất cả những văn kiện đó là một gia bảo phong phú chưa được Giáo Hội thẩm thấu.
Sứ mệnh của tôi không phải là ban hành nhiều văn kiện, mà là làm sao để các văn kiện của ngài được thẩm thấu, vì chúng là một kho tàng phong phú, giải thích Công Đồng Vatican II một cách chân thực. Ta biết rằng ngài là người của Công Đồng, ngài đã nội tâm hóa tinh thần và ngôn từ của Công Đồng. Qua các trước tác của mình, ngài giúp ta hiểu rõ điều Công Đồng muốn và điều Công Đồng không muốn. Điều này giúp ta trở thành Giáo Hội của thời ta và của tương lai.
Và bây giờ, tôi xin trả lời phần hai câu hỏi của ông. Đức Giáo Hoàng luôn luôn gần gũi đối với tôi qua các trước tác của ngài: tôi nghe ngài và tôi thấy ngài nói với tôi, nhờ thế tôi duy trì được cuộc đối thoại liên tục với ngài. Ngài luôn luôn nói với tôi qua các trước tác của ngài. Tôi biết cả gốc gác một số bản văn ấy. Tôi còn nhớ các cuộc thảo luận của chúng tôi về các bản văn đó. Bởi thế, tôi tiếp tục chuyện trò với Đức Thánh Cha.
Sự gần gũi với ngài này không chỉ giới hạn trong lời nói và bản văn, vì sau các bản văn ấy, tôi nghe thấy chính Đức Giáo Hoàng. Người đi về với Chúa không biến mất: tôi tin rằng người đi về với Chúa càng gần với chúng ta hơn. Tôi cảm thấy ngài rất gần gũi với tôi và tôi gần gũi với Chúa.
Tôi gần gũi Đức Giáo Hoàng và nay ngài giúp tôi gần gũi Chúa. Tôi cố gắng bước vào bầu khí cầu nguyện, yêu thương này với Chúa, với Đức Mẹ. Tôi phó thác cho lời cầu nguyện của ngài. Tóm lại, có một cuộc đối thoại thường hằng và chúng tôi gần gũi nhau một cách mới mẻ, một cách rất sâu sắc…
Lễ phong chân phúc
Những tâm tình làm chứng trên một lần nữa được Đức Bênêđíctô XVI phát biểu một cách long trọng trong thánh lễ phong chân phúc cho vị tiền nhiệm ngày 1 tháng 5 vừa qua. Trong bài giảng thánh lễ, Đức Bênêđíctô XVI cho biết lý do khiến ngài nhanh chóng tiến hành việc phong chân phúc này: là hương thơm sự thánh hiện của vị tiền nhiệm đã được tỏ lộ ngay trong lòng sùng kính của tín hữu vào dịp tang lễ của ngài.
Đức Bênêđíctô XVI ca tụng vị tiền nhiệm là người không sợ mở rộng cửa cho Chúa Kitô. “Ngài đã mở các hệ thống xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế cho Đức Kitô, với sức mạnh của một người khổng lồ - một sức mạnh ngài nhận được từ Thiên Chúa – tạo ra một dòng thác hầu như không thể đảo ngược. Bằng chứng tá đức tin, tình yêu, bằng lòng can đảm tông đồ của mình, và bằng uy tín cá nhân lớn lao, người con tuyệt vời này của đất nước Ba Lan đã giúp cho các tín hữu trên khắp thế giới không sợ được gọi là Kitô hữu, không sợ thuộc về Giáo Hội, không sợ nói về Tin Mừng. Nói tắt một lời: ngài đã giúp chúng ta không sợ sự thật, vì sự thật là bảo đảm của tự do. Hay nói hàm súc hơn: ngài đã trao cho chúng ta sức mạnh để tin vào Đức Kitô, vì Đức Kitô là Redemptor hominis, Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Đó là chủ đề của Thông Điệp đầu tiên của ngài, và cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các Thông Điệp khác.
Khi Karol Wojtyla ngồi vào ghế của Thánh Phêrô, ngài mang theo với ngài một nhận hiểu sâu xa về sự khác biệt giữa chủ nghĩa Mác-xít và Kitô giáo, căn cứ trên những tầm nhìn của mỗi bên về con người. Đây là sứ điệp của ngài: con người là con đường của Giáo Hội, và Đức Kitô là con đường của con người. Với sứ điệp này, vốn là di sản lớn lao của Công Đồng Vatican II, và của “vị tài công” của Công Đồng là Đức Phaolô VI, Tôi Tớ của Thiên Chúa, Đức Gioan Phaolô II đã dẫn dắt Dân Thiên Chúa qua ngưỡng cửa của Thiên Niên Kỷ thứ ba, mà nhờ Đức Kitô ngài đã mạnh dạn gọi là “ngưỡng cửa của hy vọng”. Qua hành trình chuẩn bị lâu dài cho Năm Thánh 2000, ngài một lần nữa dìu dắt Kitô giáo tới tương lai, tương lai của Thiên Chúa, vốn siêu việt trên lịch sử trong khi vẫn trực tiếp tác động vào lịch sử. Ngài đã đúng đắn khi gọi Kitô giáo là động lực của niềm hy vọng ấy, niềm hy vọng cách nào đó từng bị rúng động trước chủ thuyết Mác-xít và trước ý thức hệ về sự tiến bộ. Ngài đã lấy lại cho Kitô giáo khuôn mặt thực của mình như là một tôn giáo của hy vọng, được sống trong lịch sử trong một tinh thần của “Mùa Vọng”, trong một cuộc hiện sinh cá nhân và cộng đồng hướng tới Đức Kitô, sự viên mãn của loài người và là sự lấp đầy nơi chúng ta mọi khát vọng công lý và hòa bình (bản dịch của Thiên Phong).
Đức Bênêđíctô XVI không quên nhắc lại mối liên hệ hết sức bản thân và nóng hổi với vị tiền nhiệm: “Cuối cùng, một cách biệt vị hơn, tôi muốn cảm tạ Thiên Chúa về ân huệ đã làm việc nhiều năm với Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tôi từng biết ngài từ trước kia và từng ngưỡng mộ ngài, nhưng trong hai mươi ba năm, bắt đầu từ năm 1982 sau khi ngài gọi tôi về Rôma nhận nhiệm vụ đứng đầu Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, tôi được ở bên cạnh ngài và càng kính mến ngài hơn. Công việc của tôi đã được nâng đỡ nhờ sự sâu sắc tâm linh và nhờ tri thức khôn ngoan phong phú của ngài. Tấm gương cầu nguyện của ngài không ngừng gây cảm kích và soi sáng cho tôi: ngài không ngừng kết hiệp thâm sâu với Thiên Chúa ngay cả khi lọt thỏm giữa bao yêu cầu của sứ vụ. Và cần phải kể đến chứng tá của ngài trong đau khổ nữa: Chúa đã dần dần rút đi khỏi ngài mọi sự, nhưng ngài vẫn cứ là “tảng đá”, như Chúa Kitô mong muốn. Lòng khiêm nhường sâu xa của ngài, cắm rễ trong mối gắn bó mật thiết với Đức Kitô, đã giúp ngài tiếp tục lãnh đạo Giáo Hội và trao cho thế giới một sứ điệp thậm chí càng hùng hồn hơn khi sức mạnh thể lý của ngài suy kiệt. Bằng cách này ngài đã sống trọn, một cách phi thường, ơn gọi của mọi linh Mục và Giám Mục, đó là trở nên một hoàn toàn với Chúa Giêsu, Đấng mà ngài đón nhận và trao ban hằng ngày trong Bí Tích Thành Thể (bản dịch của Thiên Phong)
Để chứng minh cho nhận định của mình, Cha Lombardi nhắc lại cuộc phỏng vấn truyền hình tại Ba Lan vào tháng 10 năm 2005, trong đó, Đức Bênêđíctô XVI cho rằng Đức Gioan Phaolô II đã tạo ra một mẫn cảm mới đối với các giá trị luân lý cũng như đối với tầm quan trọng của tôn giáo trên thế giới. Chính vì thế, bất chấp các dị biệt cố hữu và việc họ không thừa nhận vai trò của người kế vị Thánh Phêrô, mọi Kitô hữu đều nhìn nhận ngài là phát ngôn viên của Kitô Giáo, và là phát ngôn viên của các giá trị vĩ đại của nhân loại đối với những người không phải là Kitô Hữu. Ngài còn biết cách làm cho người trẻ hứng khởi đối với Chúa Kitô, đối với Giáo Hội và các giá trị khó nắm giữ. Chính nhân cách và sự lôi cuốn của ngài đã động viên được giới trẻ thế giới dám dấn thân vào chính nghĩa Thiên Chúa và tình yêu Chúa Kitô.
Đức Bênêđíctô XVI cũng cho rằng sứ mệnh của ngài là tiếp nối di sản của vị tiền nhiệm: không ban hành nhiều văn kiện mới, mà là làm sao để các văn kiện của vị tiền nhiệm được thẩm thấu vì đó là một kho tàng phong phú. Các văn kiện này là những bản giải thích Công Đồng Vatican II hoàn toàn chân thực. Đức Gioan Phaolô II là người của Vatican II. Ngài nội tâm hóa tinh thần và lời nói của Công Đồng này. Qua các trước tác, ngài cho ta thấy rõ Công Đồng muốn gì và không muốn gì. Điều này giúp ta trở thành Giáo Hội của thời ta và của tương lai. Đức Bênêđíctô thực thi “di sản” này ngay từ những ngày đầu triều đại giáo hoàng của mình, không coi nó chỉ như những dấu mốc, mà thực sự như những linh hứng thiêng liêng mạnh mẽ, phát xuất từ chứng tá, cuộc đời và sự hiện diện thiêng liêng liên tục của ngài trên đường tiến bước của Dân Chúa.
Đức Gioan Phaolô II luôn gần gũi đối với tôi
Thiển nghĩ, nhân dịp này, ta nên đọc lại nội dung cuộc phỏng vấn ngày 16 tháng 10 năm 2005, ngày được Quốc Hội Ba Lan chọn làm Ngày Gioan Phaolô II, cũng là ngày Đức Hồng Y Karol Wojtyla được bầu làm giáo hoàng.
Hỏi: Chúng con cám ơn Đức Thánh Cha đã ban cho chúng con cuộc phỏng vấn vằn vỏi này nhân dịp Ngày Gioan Phaolô II được cử hành hôm nay tại Ba Lan.
Vào ngày 16 tháng 10 năm 1978, Đức Hồng Y Karol Wojtyla trở thành giáo hoàng, và từ ngày ấy, như Đức Thánh Cha đã biết, trong suốt hơn 26 năm, đức Gioan Phaolô II, trong tư cách Kế Nhiệm Thánh Phêrô, đã cùng các vị giám mục và hồng y lãnh đạo Giáo Hội. Trong số các vị hồng y, Đức Thánh Cha cũng có mặt, và được vị tiền nhiệm trân trọng quí mến: một người được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô viết trong cuốn :"Hãy Chỗi Dậy, Và Lên Đường” rằng: “Tôi cảm tạ Thiên Chúa vì sự hiện diện và trợ giúp của Đức Hồng Y Ratzinger. Ngài quả là một người bạn thực sự”.
Thưa Đức Thánh Cha, tình bạn này đã khởi đầu như thế nào và Đức Thánh Cha gặp Đức Hồng Y Karol Wojtyla khi nào?
Đức Bênêđíctô XVI: Tôi gặp ngài trong hai cuộc mật nghị: tiền mật nghị và mật nghị chính thức năm 1978. Lẽ dĩ nhiên, tôi đã từng nghe về Đức Hồng Y Wojtyla trước đó, nhất là trong bối cảnh thư từ qua lại giữa các giám mục Ba Lan và các giám mục Đức năm 1965. Các đức hồng y Đức đã cho tôi hay các công trạng và đóng góp lớn lao của Đức Hồng Y Giáo Phận Krakow và ngài là linh hồn của những thư từ đó ra sao. Tôi cũng đã được các bằng hữu ở đại học của ngài cho nghe về tầm cỡ triết gia và tư tưởng gia của ngài. Nhưng như tôi đã nói, cuộc gặp gỡ đích thân đầu tiên xẩy ra trong dịp có mật nghị năm 1978. Tôi thích ngài ngay từ đầu và tạ ơn Chúa, không phải do công tôi, mà chính ngài đã làm thân với tôi ngay lập tức lúc đó.
Tôi rất biết ơn đối với cử chỉ đi bước đầu của ngài đối với tôi ấy. Trên hết, khi đứng ngắm ngài cầu nguyện, tôi thấy và hiểu rõ ngài quả là người của Thiên Chúa. Ấn tượng đầu tiên của tôi là: người này sống với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa. Tôi cũng rất có ấn tượng về sự thân ái không thiên kiến mà ngài đã tỏ ra trong lúc làm quen với tôi. Ngài lên tiếng nhiều dịp trong các cuộc gặp gỡ tiền mật nghị của các vị hồng y, và chính trong những lúc như thế, tôi có cơ hội được cảm nghiệm tầm cỡ tư tưởng gia của ngài. Không dùng những lời khoa trương, ngài đã tạo được mối liên hệ chân tình và ngay sau khi được bầu làm giáo hoàng, ngài cho vời tôi tới Rôma nhiều lần để chuyện trò và sau cùng đã cử nhiệm tôi làm tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin.
Hỏi: Như vậy, việc cử nhiệm và triệu về Rôma không phải là một điều bất ngờ?
Đức Bênêđíctô XVI: Việc ấy rất khó đối với tôi, vì khi được cử làm giám mục Munich, với lễ tấn phong long trọng tại nhà thờ chính tòa Munich, tôi cảm thấy có bổn phận đối với giáo phận, gần như một cuộc hôn nhân vậy. Tôi thấy mình gắn chặt với giáo phận ấy. Cũng có một số vấn đề khó khăn chưa được giải quyết và tôi không muốn rời giáo phận trong tình trạng ấy. Tôi đem mọi chuyện ấy thành thật thảo luận với Đức Thánh Cha, và ngài hết sức có tình cha con đối với tôi. Ngài cho tôi thì giờ để suy nghĩ và cho hay chính ngài cũng muốn suy nghĩ. Cuối cùng, ngài thuyết phục để tôi tin rằng đó là ý Chúa. Do đó, tôi đã chấp nhận lời mời gọi và trách nhiệm lớn lao này, một trách nhiệm không dễ dàng gì và quả thực vượt quá khả năng của tôi. Nhưng tin vào sự tin cậy đầy tình cha con của Đức Giáo Hoàng và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, tôi đã thưa vâng.
Hỏi: Kinh nghiệm này kéo dài hơn 20 năm…
Đức Bênêđíctô XVI: Đúng thế, tôi tới (nhậm chức) hồi tháng 2 năm 1982, và nó chỉ chấm dứt với việc qua đời của Đức Giáo Hoàng vào năm 2005.
Hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, theo ý kiến của Đức Thánh Cha, đâu là những giờ phút có ý nghĩa nhất trong triều đại giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II?
Đức Bênêđíctô XVI: Ta có thể xét triều đại giáo hoàng ấy theo 2 viễn tượng: một hướng ra bên ngoài, hướng ra thế giới, một hướng vào bên trong, hướng về Giáo Hội. Đối với tôi, hướng ra thế giới, hình như là thế này: qua các diễn văn, qua con người, qua sự hiện diện và qua khả năng thuyết phục của ngài, Đức Thánh Cha đã tạo được một sự mẫn cảm mới đối với các giá trị luân lý, đối với tầm quan trọng của tôn giáo trong thế giới. Điều ấy đã tạo ra một sự mở cửa mới, một mẫn cảm mới đối với tôn giáo và nhu cầu phải có chiều kích tôn giáo nơi con người. Trên hết, tầm quan trọng của Giám Mục Rôma đã tăng tiến rất nhiều.
Bất chấp các dị biệt và bất chấp việc họ không thừa nhận Vị Kế Nhiệm Thánh Phêrô, mọi Kitô hữu đều nhìn nhận rằng ngài là phát ngôn viên của Kitô Giáo. Nói về bình diện quốc tế, không một người nào trên thế giới có thể nhân danh Kitô Giáo để lên tiếng như thế và đem lại tiếng nói và sức mạnh cho thực tại Kitô Giáo trên thế giới ngày nay như vậy. Ngài cũng là phát ngôn viên của các giá trị vĩ đại của nhân loại cho những người và tôn giáo không phải là Kitô Giáo. Ngài đã tạo ra được một bầu khí đối thoại giữa các tôn giáo lớn và một cảm thức trách nhiệm chung của chúng ta đối với thế giới. Ngài cũng nhấn mạnh rằng bạo lực và tôn giáo không thể đi đôi với nhau và ta phải cùng nhau tìm ra con đường dẫn tới hòa bình, cùng nhận trách nhiệm chung đối với nhân loại.
Về tình hình Giáo Hội, tôi muốn nói rằng: trước nhất, ngài biết cách truyền vào giới trẻ một lòng hứng khởi đối với Chúa Kitô. Đây là một điều mới mẻ, nếu ta nghĩ tới giới trẻ của cuối thập niên 60 và thập niên 70. Giới trẻ ấy đã trở nên hứng khởi đối với Chúa Kitô, Giáo Hội và các giá trị khó nắm. Chính nhân cách và sức lôi cuốn của ngài đã động viên được giới trẻ thế giới dám dấn thân cho chính nghĩa Thiên Chúa và tình yêu Chúa Kitô. Trong Giáo Hội, ngài đã tạo được lòng yêu mến mới đối với Phép Thánh Thể.
Chúng ta vẫn còn đang trong năm Thánh Thể, được chính ngài mời gọi với một lòng kính mến cao độ. Ngài đã tạo được một ý thức mới đối với sự cao cả của lòng Chúa thương xót; ngài đã thâm hậu hóa lòng sùng kính Đức Mẹ. Nhờ thế, ngài đã hướng dẫn ta biết nội tâm hóa đức tin và, cùng một lúc, biết cách đạt được hiệu năng lớn hơn. Dĩ nhiên, ta cần nhắc tới sự đóng góp chủ yếu của ngài vào những thay đổi lớn lao trên thế giới trong năm 1989, làm cho chủ nghĩa xã hội xụp đổ.
Hỏi: Trong diễn trình gặp gỡ và đích thân thảo luận của Đức Thánh Cha với Đức Gioan Phaolô II, điều gì gây ấn tượng nhất nơi Đức Thánh Cha? Đức Thánh Cha có thể cho chúng con hay những buổi gặp gỡ cuối cùng trong năm nay với Đức Gioan Phaolô II không?
Đức Bênêđíctô XVI: Có. Vào những ngày cuối cùng, tôi được gặp ngài hai lần: một lần tại Bệnh Viện Gemelli, khoảng ngày 5 hay 6 tháng 2; và lần thứ hai là trước ngày ngài qua đời, ngay tại phòng của ngài. Trong lần gặp thứ nhất, Đức Giáo Hoàng đau đớn trông thấy, nhưng ngài hoàn toàn sáng suốt và rất tỉnh táo. Trước đó, tôi từng gặp ngài về một số việc cần ngài quyết định. Dù đau đớn trông thấy, Đức Thánh Cha vẫn theo sát một cách chăm chú những điều tôi trình bày. Ngài dùng ít lời cho tôi hay quyết định của ngài và ban phép lành cho tôi. Ngài chào tôi bằng tiếng Đức và xác nhận lòng tin cậy và tình bằng hữu đối với tôi.
Tôi hết sức cảm động thấy ngài kết hợp xiết bao với Chúa Giêsu đau khổ và can đảm chịu đau khổ như thế nào với Chúa và vì Chúa. Tôi cũng thấy rõ sự thanh thản nội tâm của ngài và ngài hoàn toàn tỉnh trí ra sao. Lần gặp thứ hai là trước ngày ngài qua đời: rõ ràng là ngài đang đau đớn khủng khiếp và đang được các bác sĩ và bạn bè chăm sóc. Ngài vẫn rất sáng suốt và ban phép lành cho tôi. Ngài không còn nói nhiều được nữa. Sự kiên nhẫn của ngài vào thời điểm đau đớn ấy là một bài học lớn lao cho tôi, giúp tôi thấy rằng ngài đã tin tưởng như thế nào vào bàn tay Thiên Chúa và ngài đã trao phó con người của ngài ra sao cho thánh ý Thiên Chúa. Bất chấp cái đau trông thấy, ngài vẫn thanh thản, vì ngài nằm trong bàn tay xót thương của Thiên Chúa.
Hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, trong các diễn văn của mình, Đức Thánh Cha hay nhắc tới khuôn mặt Đức Gioan Phaolô II, cho hay ngài là vị giáo hoàng vĩ đại, vị tiền nhiệm quá cố đáng kính. Chúng con luôn nhớ những lời Đức Thánh Cha phát biểu trong Thánh Lễ ngày 20 tháng 4 vừa qua, những lời đặc biệt dành cho Đức Gioan Phaolô II. Thưa Đức Thánh Cha, chính Đức Thánh Cha nói rằng, con xin trích dẫn: “như thể người đang nắm chặt tay tôi, tôi thấy ánh mắt tươi cười của ngài và như nghe thấy tiếng ngài nói, mà lúc đó, tôi coi như người nói thẳng với tôi một cách riêng: Đừng sợ!”. Thưa Đức Thánh Cha, sau cùng chúng con xin hỏi một câu có tính rất riêng tư: Đức Thánh Cha có tiếp tục cảm thấy sự hiện diện của Đức Gioan Phaolô II hay không,và nếu có, thì theo cách nào?
Đức Bênêđíctô XVI: Chắc chắn có. Tôi xin bắt đầu bằng cách trả lời phần đầu câu hỏi của ông. Nói về di sản của Đức Gioan Phaolô II, thoạt đầu, tôi quên không nhắc tới nhiều văn kiện ngài để lại cho chúng ta: 14 thông điệp, nhiều tông thư và văn kiện khác. Tất cả những văn kiện đó là một gia bảo phong phú chưa được Giáo Hội thẩm thấu.
Sứ mệnh của tôi không phải là ban hành nhiều văn kiện, mà là làm sao để các văn kiện của ngài được thẩm thấu, vì chúng là một kho tàng phong phú, giải thích Công Đồng Vatican II một cách chân thực. Ta biết rằng ngài là người của Công Đồng, ngài đã nội tâm hóa tinh thần và ngôn từ của Công Đồng. Qua các trước tác của mình, ngài giúp ta hiểu rõ điều Công Đồng muốn và điều Công Đồng không muốn. Điều này giúp ta trở thành Giáo Hội của thời ta và của tương lai.
Và bây giờ, tôi xin trả lời phần hai câu hỏi của ông. Đức Giáo Hoàng luôn luôn gần gũi đối với tôi qua các trước tác của ngài: tôi nghe ngài và tôi thấy ngài nói với tôi, nhờ thế tôi duy trì được cuộc đối thoại liên tục với ngài. Ngài luôn luôn nói với tôi qua các trước tác của ngài. Tôi biết cả gốc gác một số bản văn ấy. Tôi còn nhớ các cuộc thảo luận của chúng tôi về các bản văn đó. Bởi thế, tôi tiếp tục chuyện trò với Đức Thánh Cha.
Sự gần gũi với ngài này không chỉ giới hạn trong lời nói và bản văn, vì sau các bản văn ấy, tôi nghe thấy chính Đức Giáo Hoàng. Người đi về với Chúa không biến mất: tôi tin rằng người đi về với Chúa càng gần với chúng ta hơn. Tôi cảm thấy ngài rất gần gũi với tôi và tôi gần gũi với Chúa.
Tôi gần gũi Đức Giáo Hoàng và nay ngài giúp tôi gần gũi Chúa. Tôi cố gắng bước vào bầu khí cầu nguyện, yêu thương này với Chúa, với Đức Mẹ. Tôi phó thác cho lời cầu nguyện của ngài. Tóm lại, có một cuộc đối thoại thường hằng và chúng tôi gần gũi nhau một cách mới mẻ, một cách rất sâu sắc…
Lễ phong chân phúc
Những tâm tình làm chứng trên một lần nữa được Đức Bênêđíctô XVI phát biểu một cách long trọng trong thánh lễ phong chân phúc cho vị tiền nhiệm ngày 1 tháng 5 vừa qua. Trong bài giảng thánh lễ, Đức Bênêđíctô XVI cho biết lý do khiến ngài nhanh chóng tiến hành việc phong chân phúc này: là hương thơm sự thánh hiện của vị tiền nhiệm đã được tỏ lộ ngay trong lòng sùng kính của tín hữu vào dịp tang lễ của ngài.
Đức Bênêđíctô XVI ca tụng vị tiền nhiệm là người không sợ mở rộng cửa cho Chúa Kitô. “Ngài đã mở các hệ thống xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế cho Đức Kitô, với sức mạnh của một người khổng lồ - một sức mạnh ngài nhận được từ Thiên Chúa – tạo ra một dòng thác hầu như không thể đảo ngược. Bằng chứng tá đức tin, tình yêu, bằng lòng can đảm tông đồ của mình, và bằng uy tín cá nhân lớn lao, người con tuyệt vời này của đất nước Ba Lan đã giúp cho các tín hữu trên khắp thế giới không sợ được gọi là Kitô hữu, không sợ thuộc về Giáo Hội, không sợ nói về Tin Mừng. Nói tắt một lời: ngài đã giúp chúng ta không sợ sự thật, vì sự thật là bảo đảm của tự do. Hay nói hàm súc hơn: ngài đã trao cho chúng ta sức mạnh để tin vào Đức Kitô, vì Đức Kitô là Redemptor hominis, Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Đó là chủ đề của Thông Điệp đầu tiên của ngài, và cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các Thông Điệp khác.
Khi Karol Wojtyla ngồi vào ghế của Thánh Phêrô, ngài mang theo với ngài một nhận hiểu sâu xa về sự khác biệt giữa chủ nghĩa Mác-xít và Kitô giáo, căn cứ trên những tầm nhìn của mỗi bên về con người. Đây là sứ điệp của ngài: con người là con đường của Giáo Hội, và Đức Kitô là con đường của con người. Với sứ điệp này, vốn là di sản lớn lao của Công Đồng Vatican II, và của “vị tài công” của Công Đồng là Đức Phaolô VI, Tôi Tớ của Thiên Chúa, Đức Gioan Phaolô II đã dẫn dắt Dân Thiên Chúa qua ngưỡng cửa của Thiên Niên Kỷ thứ ba, mà nhờ Đức Kitô ngài đã mạnh dạn gọi là “ngưỡng cửa của hy vọng”. Qua hành trình chuẩn bị lâu dài cho Năm Thánh 2000, ngài một lần nữa dìu dắt Kitô giáo tới tương lai, tương lai của Thiên Chúa, vốn siêu việt trên lịch sử trong khi vẫn trực tiếp tác động vào lịch sử. Ngài đã đúng đắn khi gọi Kitô giáo là động lực của niềm hy vọng ấy, niềm hy vọng cách nào đó từng bị rúng động trước chủ thuyết Mác-xít và trước ý thức hệ về sự tiến bộ. Ngài đã lấy lại cho Kitô giáo khuôn mặt thực của mình như là một tôn giáo của hy vọng, được sống trong lịch sử trong một tinh thần của “Mùa Vọng”, trong một cuộc hiện sinh cá nhân và cộng đồng hướng tới Đức Kitô, sự viên mãn của loài người và là sự lấp đầy nơi chúng ta mọi khát vọng công lý và hòa bình (bản dịch của Thiên Phong).
Đức Bênêđíctô XVI không quên nhắc lại mối liên hệ hết sức bản thân và nóng hổi với vị tiền nhiệm: “Cuối cùng, một cách biệt vị hơn, tôi muốn cảm tạ Thiên Chúa về ân huệ đã làm việc nhiều năm với Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tôi từng biết ngài từ trước kia và từng ngưỡng mộ ngài, nhưng trong hai mươi ba năm, bắt đầu từ năm 1982 sau khi ngài gọi tôi về Rôma nhận nhiệm vụ đứng đầu Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, tôi được ở bên cạnh ngài và càng kính mến ngài hơn. Công việc của tôi đã được nâng đỡ nhờ sự sâu sắc tâm linh và nhờ tri thức khôn ngoan phong phú của ngài. Tấm gương cầu nguyện của ngài không ngừng gây cảm kích và soi sáng cho tôi: ngài không ngừng kết hiệp thâm sâu với Thiên Chúa ngay cả khi lọt thỏm giữa bao yêu cầu của sứ vụ. Và cần phải kể đến chứng tá của ngài trong đau khổ nữa: Chúa đã dần dần rút đi khỏi ngài mọi sự, nhưng ngài vẫn cứ là “tảng đá”, như Chúa Kitô mong muốn. Lòng khiêm nhường sâu xa của ngài, cắm rễ trong mối gắn bó mật thiết với Đức Kitô, đã giúp ngài tiếp tục lãnh đạo Giáo Hội và trao cho thế giới một sứ điệp thậm chí càng hùng hồn hơn khi sức mạnh thể lý của ngài suy kiệt. Bằng cách này ngài đã sống trọn, một cách phi thường, ơn gọi của mọi linh Mục và Giám Mục, đó là trở nên một hoàn toàn với Chúa Giêsu, Đấng mà ngài đón nhận và trao ban hằng ngày trong Bí Tích Thành Thể (bản dịch của Thiên Phong)