Trở lại Sydney, niềm vui đầu tiên là được tham dự thánh lễ vọng Phục Sinh. Ba mươi năm nay, năm nào mà không được tham dự thánh lể vọng Phục Sinh ở Sydney? Thế thì vui nỗi gì? Vui vì được mừng lễ Phục Sinh với những người cùng một nền văn hóa, hay chia sẻ phần nào nền văn hóa với họ, không lao đao vất vả như lúc ở Hồng Kông, Hán Thành và Đài Bắc, là những xứ, không biết phải nói như thế nào, nhưng nhất định không phải là những xứ thuộc nền văn hóa Kitô Giáo.
May mắn một điều, khi tới Hồng Kông và ngụ ở khách sạn Regal Riverside thuộc khu Shatin, Kowloon, gia đình gồm 10 người chúng tôi tìm được Nhà Thờ Thánh Bênêđíctô gần đó. Chỉ đi bộ chưa tới 10 phút là đã tới nơi, kịp thánh lễ Chúa Nhật thứ năm Mùa Chay. Nhà thờ khá khang trang, trang hoàng đơn giản, làm nổi bật tượng chịu nạn với hình Chúa Giêsu phục sinh trên một bức tường mầu xanh đậm trải dài suốt chiều ngang nhà thờ. Vị linh mục dáng người mảnh mai, với bộ râu quai nón đen mượt, có giọng đọc ấm áp, cử chỉ khoan hòa, đúng tư cách một thừa tác viên bí tích. Giáo dân phần lớn gồm những người từ trung niên trở lên, nghiêm chỉnh ngồi đầy khắp các hàng ghế còn mới. Lác đác cũng có một vài người trẻ, mà người nổi nhất chính là anh ca trưởng, điều khiển không phải chỉ là ca đoàn mà toàn thể cộng đoàn. Anh đứng ngay trên cung thánh để làm phận sự. Và phận sự ấy được anh chu toàn hết sức xuất sắc, khiến người ta không còn nhận ra đâu là ca đoàn đâu là cộng đoàn nữa. Tất cả là một, cùng cất lời ca tán tụng hồng ân Thiên Chúa. Tất nhiên trọn bộ phụng vụ được tiến hành bằng tiếng Quảng Đông, một thứ tiếng mà gia đình tôi hầu như không ai hiểu.
Rất may, ở các hàng ghế, ngoài các kinh sách bằng tiếng Trung Hoa, cộng đồng Thánh Bênêđíctô còn cung cấp các sách lễ Chúa Nhật bằng Anh Ngữ. Nên việc tham dự thánh lễ của gia đình tôi phần nào được tích cực hơn. Sự tích cực này được gia tăng phần nào nhờ bầu khí “hợp đoàn” của cộng đồng Thánh Bênêđíctô: muôn người như một, cùng đọc, cùng hát, cùng đứng, cùng ngồi, cùng làm dấu Thánh Giá, cùng bái lạy… không một ai làm gì riêng rẽ, không ai đọc riêng, không ai hát riêng, kể cả ca đoàn! Cộng đồng Thánh Bênêđíctô để lại cho gia đình tôi một ấn tượng tích cực hiếm có.
Ngày áp cuối cùng ở Hán Thành, chúng tôi gặp Chúa Nhật Lễ Lá. Để tránh phiền phức cho đoàn du lịch, gia đình tôi dậy thực sớm để tham dự thánh lễ 6 giờ sáng. Từ khách sạn Ellui ở đường Dosan, tiếp nối với đường Yeongdong tới nhà thờ Cheongdam trên đại lộ Samsung, đi bộ phải hơn 20 phút. Nhờ thời tiết mát dịu vào buổi sáng tháng Tư, nên cuộc đi bộ của chúng tôi khá thoải mái. Tường nhà thờ Cheongdam hướng ngay ra đại lộ Samsung, nhưng lối vào nhà thờ thì nằm ở một con hẻm. Đây là một ngôi thánh đường tương đối mới, khang trang hơn nhà thờ Thánh Bênêđíctô ở Kowloon, Hồng Kông. Cách trang trí cũng tương tự như nhà thờ vừa nhắc: các hàng ghế cũng được sắp xếp theo hình bán cung, tập trung vào bàn thờ phía trước, nhưng thay vì bức tường liền ở phía sau bàn thờ, người ta có gắn nhiều cửa kính mầu với các hình ảnh đạo rực rỡ. Tượng Chịu nạn với Chúa bị đóng đinh vẫn nổi bật giữa cộng đồng dân Người.
Chúng tôi hy vọng sẽ có cuộc diễn lại cảnh Chúa vinh quang tiến vào Giêrusalem ngày nào. Nhưng không, khi tới nơi, chúng tôi chỉ được trao cho những nhành lá nhỏ để tiến vào nhà thờ tham dự thánh lễ. Vị linh mục đã có mặt trên bàn thờ và các hàng ghế đã gần được chiếm hết. Cả linh mục lẫn cộng đoàn đều rất nghiêm chỉ, ăn mặc “bảnh bao”, một nét gần như đã thành văn hóa của Đại Hàn. Phụ nữ nào cũng có khăn trắng trùm đầu. Người vợ của một cặp vợ chồng trẻ đến sau chúng tôi cũng mở tấm khăn thủ sẵn trong túi sách ra và trùm lên đầu trước khi làm bất cứ hành vi nào khác để tham dự thánh lễ. Giáo dân nào cũng tiếp nhận một bản thông tin giáo xứ trong đó có các kinh sách chung để đọc trong Thánh Lễ và người nào cũng mở bản thông tin này để cùng thưa kinh sốt sắng. Giống cộng đồng Thánh Bênêđíctô ở Kowloon, Hồng Kông, cộng đồng Cheongdam cũng đồng thanh thưa kinh và ca hát, không phân biệt ca đoàn và cộng đoàn. Tuy ở đây không thấy sự xuất hiện của một ca trưởng, nhưng người ta nghe được một hợp ca duy nhất, hết sức đồng nhịp, như có người điều khiển. Có lẽ nhờ tiếng đàn chuyên nghiệp, vâng đúng là chuyên nghiệp, đặt trên thượng lầu cầm chịch chăng? Hay phải chăng tất cả các bài ca này đều là những bài ca quen thuộc, nặng phần cầu nguyện hơn trình diễn? Bản chất của thờ phượng cộng đồng phải chăng là thế?
Tuy nhiên, không như tại cộng đồng Thánh Bênêđíctô ở Hồng Kông, gia đình tôi không tìm được một kinh sách nào bằng tiếng Anh tại cộng đồng Cheongdam. Việc tham dự thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá của chúng tôi, vì thế, có phần kém tích cực hơn. Nhưng bạn đòi hỏi gì đây? Một thánh lễ đầy đủ giữa một cộng đồng những người cùng một niềm tin Công Giáo chưa đủ sao! Dù ngôn ngữ khác nhau, nhưng ai cũng hiểu là mình đang phụng thờ cùng một Thiên Chúa, theo cùng một nghi thức của Mẹ Giáo Hội, hiền thê Đức Kitô. Tuy nhiên, nếu có được một kinh sách nào đó bằng tiếng Anh, một ngôn ngữ ngày nay gần như được coi là phổ quát, thì có lẽ hay hơn. Nghĩ cho cùng, hình như người Đại Hàn không được hào phóng lắm. Đêm chúng tôi từ Quảng Châu bay qua Hán Thành, hỏi mượn đồ cắm điện thì khách sạn sẵn sàng mang tới tận phòng. Nhưng dùng bàn chải đáng răng mà khách sạn để sẵn trong phòng thì phải trả tiền. Còn nhớ hôm thanh tóan khách sạn (check-out), nhân viên khách sạn chỉ hỏi tôi mỗi một chuyện: có dùng bàn chải đánh răng không. Còn tiền nối internet thì tôi đã thanh toán trước đó: 30 phút, 10 ngàn wons, tương đương 10 dollars! Khách sạn có internet miễn phí, nhưng bạn phải xuống business center để sử dụng. Tại Thẩm Quyến và Quảng Châu, hai thành phố hình như phát triển trễ hơn Hán Thành, chúng tôi được sử dụng miễn phí internet ngay tại phòng thuê của mình. Người hướng dẫn du lịch của Đại Hàn cũng có khác với người hướng dẫn du lịch của Hồng Kông, Thẩm Quyến và Quảng Châu: họ không bận tâm đến việc cung cấp nước chai miễn phí cho đoàn du lịch.
Bất chấp tất cả những điều tiêu cực nhỏ mọn ấy, người Công Giáo Đại Hàn vẫn để lại trong tôi một điều rất hiếm trong phong cách thực hành đạo, cụ thể là phong cách cử hành việc thờ phượng chung, nó toát ra một tinh thần cộng đồng gắn bó như một, điều mà tôi thật sự thiếu thốn.
Đến Đài Loan, gia đình tôi thực sự bước vào Tuần Thánh. Nhưng dọc hành trình, chỉ toàn gặp cụ Tưởng cùng đền thờ chùa miễu. Có tới hàng trăm cụ Tưởng (Giới Thạch) tại một khu vườn nhỏ tại Cihu, thuộc huyện Taoyuan: cụ ngồi, cụ đứng, cụ cỡi ngựa, cụ toàn thân, cụ bán thân, cùng khắp và thật rối mắt. Không hiểu tại sao người ta lại đặt hàng trăm tượng của cụ ở một chỗ khá chật hẹp: mười mấy bức tượng quay mặt vào nhau trên một mảnh đất chỉ chừng 20 thước vuông, cái cao cái thấp, cái mặc quân phục, cái mặc áo nhà nho, cái mầu nâu, cái mầu xanh, mầu trắng… và rất nhiều mảnh đất như thế. Quả là thiếu thẩm mỹ, khiến người nhìn thấy nản. Không lạ gì thời Trần Thủy Biển (Chen Shui-bian) làm Tổng Thống, mấy trăm tượng của cụ bị tháo gỡ khắp nơi trên đảo. Nghe đâu ông ta còn thay đổi tên các lăng và đài kỷ niệm của cụ nữa. Có điều oái oăm, là cái ông tổng thống họ Trần này quả không hổ với cái tên “Biển” của mình nên đã “biển thủ” hàng trăm triệu dollars tiền công quĩ, do đó, hiện đang nằm đếm 20 cuốn lịch tại nhà lao. Tổng thống họ Mã (Ma Ying-jeou) hiện nay, vốn làm thông dịch viên cho Tưởng Kinh Quốc trước đây, lần lượt dựng lại tượng cụ ở khắp chốn, nhưng kém người Cộng Sản Việt Nam một bậc, vì không dám sửa lại tên công trường tự do tại Đền Tưởng Niệm Tưởng Giới Thạch ở Đài Bắc, sợ thành người “đồng khởi vùng lên mất tự do”.
Tại phần mộ cụ Tưởng, một phần mộ khá đơn giản, đặt trong một căn phòng vừa nhỏ vừa thấp vì cụ muốn được chôn vĩnh viễn tại nơi sinh quán là Fenghua, tôi theo lời căn dặn ghi trên tường dưới di ảnh cụ mà cúi đầu chào. Nhưng thực ra, tôi cúi đầu chào cây thánh giá kết bằng hoa trắng đặt trước mộ cẩm thạch đen của cụ. Cụ vốn là tín đồ của Phái Methodist, cùng là Kitô hữu như tôi, tuy cụ tin phong thủy hơn tôi. Trái với mộ phần này, Đền Kỷ Niệm cụ ở Đài Bắc thì hết sức nguy nga và đồ sộ, hơn hẳn đền Tôn Dật Tiên, hơn hẳn đền Khổng Tử ở Wen-Wu (Văn Vũ): 89 bậc kỷ niệm cụ 89 tuổi khi từ trần, khối đá làm cửa vòng cung nặng 7 tấn 5, cao 19 thước ghi dấu cụ qua đời năm 1975. Trong đền, cụ Tưởng chễm trệ “ngự” trên chiếc ghế bành cao chót vót, mình mặc áo nhà nho (hay quan lại?) tươi cười nhìn xuống thứ dân.
Đền chùa ở Đài Loan khá nhiều. Nổi nhất là chùa Chung Tai Chan ở Puli thuộc huyện Nantou, Đài Trung. Chúng tôi chưa từng gặp một ngôi chùa nào lớn và nguy nga tráng lệ như ngôi chùa này: tọa lạc trên một khu đất rộng 25 mẫu tây, tượng Phật bằng vàng, xây toàn bằng đá, lát hoa cương, nơi tu học của hơn 1,000 sư nam, sư nữ và mấy trăm tín hữu, sinh hoạt theo lối tự cung tự cấp như một đan viện xitô Công Giáo. Nó được đại sư Wei Chueh xây dựng trong 7 năm và được khánh thành năm 2001 làm trung tâm truyền bá Đạo Thiền (Chan) cho Đài Loan và khắp thế giới. Ngôi chùa nằm giữa một vùng đồi núi bao quanh, được sư nữ hướng dẫn mô tả như vị đại sư ngự giữa tòa sen với núi non chung quanh làm đài. Chính điện ở lầu 16 có tòa bảo tháp 7 tầng bằng gỗ mà không cần một chiếc đinh, đặt chính giữa, còn ở các tường chung quanh, là 30 ngàn (theo lời sư nữ, nhưng theo Wikipedia thì chỉ là 20 ngàn) ảnh khắc bằng đồng mô tả Phật ngồi thiền, được sư nữ cho hay, do nghệ nhân Việt Nam thực hiện, không phải vì giá rẻ, mà vì họ duy trì được nghệ thuật thủ công tinh vi.
Cũng tại lầu 16, sư nữ hướng dẫn, bằng một giọng tiếng Anh hết sức lưu loát, kể cho chúng tôi nghe tài quán thông của đại sư Wei Chueh: ngài dự kiến ngôi chùa này sẽ chịu được trận động đất mạnh 7.5 độ Ms (surface wave magnitude wave, đơn vị chính thức của Đài Loan) trong khi trận động đất xẩy ra hồi tháng 9 năm 1999 chỉ là 7.3 Ms. Có người nói nhỏ: phải chi ngài cố vấn cho các lò nguyên tử của Nhật, thì hay biết mấy!
Có người không tin đây là một ngôi chùa vì thật mà khó hoà hợp nó với ý niệm đơn giản và thoát tục của Phật Giáo. Chúng tôi có hỏi sư nữ hướng dẫn về giá xây cất nó, nhưng chỉ được trả lời là vô giá, giá của nó nằm ở trong tâm (có nguồn cho hay giá xây cất của nó là 650 triệu dollars Mỹ). Tuy thế, Chung Tai Chan từng bị chính phủ Đài Loan điều tra khi phong chức cho hàng chục sư nữ trẻ, con cái nhà giầu, mà không qua thời kỳ tu học cần thiết. Họ cũng không chịu cho các gia đình này biết ý định của con gái họ, chỉ thấy chúng “vanish into thin air” (như biến mất vào không khí) sau khi dự sinh hoạt hè do Chùa này tổ chức. Chung Tai Chan cũng can dự nhiều vào chính trị, mạnh mẽ ủng hộ việc thống nhất với Trung Hoa và các ứng viên tổng thống của Quốc Dân Đảng.
Kiếm một nhà thờ Công Giáo tại Đài Bắc, vì thế, có khó khăn đối với gia đình tôi. Vào internet, khu vực khách sạn chúng tôi ở có tới 5, 6 nhà thờ Công Giáo, trong đó có hai ngôi nằm cùng đường Nam Kinh Đông (East Nanking) là Nhà Thờ Đức Bà Nữ Vương Trung Hoa, và Nhà Thờ Đức Bà. Nhưng nhân viên khách sạn cho hay hai ngôi nhà thờ đó khá xa, nên đã chỉ cho chúng tôi Nhà Thờ Thánh Giuse Thợ nằm trong hẻm 158 đường Bade (đọc là Ba Đơ) gần đó. 9 giờ tối Thứ Năm Tuần Thánh, tuy mệt mỏi sau một ngày đi “tour”, gia đình tôi cũng đã cuốc bộ tới ngôi nhà thờ đó để dự giờ chầu Thánh Thể, cẩn thận mang theo cuốn Thánh Kinh bằng hai ngôn ngữ Anh và Hoa mà khách sạn để sẵn ở một ngăn bàn, điều mà cả ở Hồng Kông, Thẩm Quyến, Quảng Châu và Hán Thành đều không có, và chiếc laptop có giờ chầu Thánh Thể được chuyển tải từ internet xuống. Đến nơi, các giáo dân của giáo xứ này đã rời nhà thờ hầu hết, chỉ còn một hai người trong ca đoàn ở lại để tập dượt cho phụng vụ ngày hôm sau. Ngôi nguyện đường có đặt Mình Thánh, vì thế, thuộc riêng gia đình tôi. Quả là an ủi được nghe trình thuật mô tả lại khung cảnh Chúa lập phép Thánh Thể và được suy niệm theo Giờ Chầu đã chuyển tải từ internet. Hình ảnh yêu thương, phản bội, yếu đuối, thứ tha hòa nhập vào nhau làm nổi bật cuộc hành trình dương thế và cả cuộc hành trình “du hý” hiện tại của chúng tôi. Thiếu hai trợ cụ Thánh Kinh và Giờ Chầu kia, hẳn những hình ảnh ấy bớt đi nhiều tính sống động. Cả hai trợ cụ đó, chúng tôi đều không tìm thấy nơi ngôi thánh đường hoàn toàn dùng tiếng quan thoại này.
Ngỡ ngàng hơn nữa, chúng tôi vẫn nghĩ người Công Giáo Đài Bắc chắc chắn sẽ cử hành phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh, tưởng niệm việc Chúa chịu chết trên Thánh Giá, vào lúc 3 giờ chiều, giờ Chúa tắt hơi thở cuối cùng như người Công Giáo Sydney, nên đã chuẩn bị sẵn sàng tách khỏi đoàn du lịch để tham dự việc cử hành đó. Nhưng không, vị cha sở người Ba Lan, bằng một giọng tiếng Anh lưu loát, cho hay: việc cử hành đó chỉ diễn ra lúc 8 giờ tối, giờ chúng tôi lên máy bay rời Đài Bắc để trở lại Sydney. Cha còn cho biết thêm: không có nhà thờ nào ở đây cử hành phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh vào lúc 3 giờ chiều. Phải chăng vì đây là một xứ sở không Kitô Giáo, Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là một ngày nghỉ, nên việc cử hành kia chỉ diễn ra sau khi mọi người đã từ sở làm hay kinh doanh trở về nhà và ăn uống nghỉ ngơi đôi chút? Có thể đúng, nhưng đó không hẳn là lý do đầy đủ và ắt có. Việt Nam chưa bao giờ được mệnh danh là một xứ Kitô Giáo, nhưng tại đó, việc cử hành các nghi thức Tuần Thánh, ngay thời buổi này, cũng đâu có “low key” như thế.
Giáo xứ Thánh Giuse Thợ được một điều: có nghi thức đi đàng Thánh Gía vào lúc 3 giờ chiều, nhưng cha sở nhấn mạnh: chỉ bằng tiếng Trung Hoa. Một phụ nữ mặc thường phục nhưng có dáng dấp một nữ tu nói chen vào: ở nhà thờ Don Bosco, có thể có nghi thức bằng tiếng Anh; vả lại, có linh mục Việt Nam ở đấy. Nhưng địa chỉ và số điện thoại của nhà thờ đó thì cả cha sở và mấy giáo dân hiện diện đều không ai biết. Chúng tôi chỉ được các vị cung cấp tên nhà thờ bằng chữ Trung Hoa. Dĩ nhiên về lại Khách Sạn, vào internet, thì tìm ra địa chỉ và số điện thoại ấy dễ dàng, nhưng chúng tôi cũng thử nhân viên khách sạn (Brother Hotel) xem sao. Phải mất gần nửa giờ, 3 nhân viên khách sạn ấy mới cung cấp được hai chi tiết trên, sau khi lục lọi tới 10 “folders” dầy cộm: 123 Đường Minsheng Đông, khu 3. Quả là ngạc nhiên, chả lẽ Đài Bắc không có “White Pages” (niên giám điện thoại) như các thành phố khác trên thế giới?
Đúng như lời cha sở nhà thờ Thánh Giuse Thợ, nhà thờ Don Bosco cũng không cử hành phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh vào lúc 3 giờ chiều, dù ở đây, có tới 5 linh mục, trong đó, hai vị là người Việt Nam. Và nghi thức đi đàng Thánh Giá còn diễn ra muộn hơn nữa: lúc 7 giờ tối, liền sau đó là phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh vào lúc 7 giờ 30. Chúng tôi chọn nhà thờ này vì nghi thức cũng như nghi lễ được cử hành bằng hai ngôn ngữ: Hoa và Anh và rất có cơ may được rước lễ vì dù sao, xe chở chúng tôi ra phi trường chỉ rời khách sạn vào lúc 8 giờ 20.
Gia đình tôi tới nhà thờ sớm, lúc chưa lên đèn. Đây là ngôi nhà thờ đầu tiên trong cuộc hành trình của chúng tôi được thiết trí theo kiểu xưa, nghĩa là hình chữ nhật, tường gian cung thánh nổi bật bức tranh Chúa Giêsu đang giảng dạy, nổi bật đến nỗi người xem quên hết những gì ở chung quanh. Loanh quanh đi tìm một cuốn sách kinh hay sách lễ bằng tiếng Anh, nhưng không thấy. Leo lên cả nhà nguyện ở tầng trên, tìm khắp ngả, cũng không thấy. May gặp được ông từ nhà thờ, ông kiếm mãi, mới tìm được cuốn sách lễ bằng tiếng Anh, nhưng lại là cuốn sách lễ hàng ngày, không có tuần tam nhật thánh (triduum). Đang thắc mắc không biết giáo xứ này hiểu “song ngữ” Hoa và Anh ra sao, thì gần đến giờ cử hành, lúc nhà thờ đã lên đèn và giáo dân lục tục xuất hiện, được một chức việc khác trao cho cuốn đi đàng Thánh Gía, do một linh mục ngoại quốc, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, soạn thảo, tựa là Mary’s Way of The Cross: Đàng Thánh Giá Của Mẹ Maria bằng hai ngôn ngữ Hoa và Anh. Vội mở ra ngay và gặp được một nội dung thật mới lạ, diễn tả lại tâm tình của Đức Mẹ suốt 15 chặng đàng Thánh Giá của Con Trai mình. Ở mỗi chặng, tâm tình của ngài đều muốn biến cố ấy xẩy ra cách khác, cách yêu thương của người mẹ trước nhục hình khủng khiếp của con trai duy nhất. Nhưng rồi, ngài vội kết luận: nhưng tôi biết, mọi việc phải xẩy ra như thế, và tôi lặng lẽ bước theo hoặc cầu nguyện hoặc chiêm ngắm. Chỉ duy ở chặng 15, chặng Phục Sinh Khải Hoàn, Đức Mẹ không lặng lẽ nữa mà hân hoan tuyên xưng. Các Tông Đồ và cả Giáo Hội nữa cũng đã làm thế: không thể nào không tuyên xưng biến cố có một không hai: Chúa đã phục sinh!
Rất tiếc vị linh mục chủ tế mà ông từ nhà thờ cho biết là cha Vinh (Việt Nam) đã không đọc các tâm tình ấy, nhưng đọc các đoạn Tin Mừng xứng hợp với từng chặng. Ngài đọc bằng tiếng Trung Hoa ở chặng thứ nhất, bằng tiếng Anh ở chặng tiếp theo, và mẫu mực ấy được lặp đi lặp lại cho hết 15 chặng đàng Thánh Giá. Cộng đoàn cũng theo ngài lần lượt đọc kinh và hát bài Stabat Mater bằng tiếng Hoa ở chặng đầu, bằng tiếng Anh ở chặng sau và cứ thế cho đến hết các chặng…
Đến chặng 15, thì đồng hồ đã gần chỉ 8 giờ tối. Gia đình tôi buộc phải lặng lẽ rời nhà thờ Don Bosco để trở lại khách sạn, chuẩn bị ra phi trường, lòng những ân hận không được hôn chân Thánh Gía và rước lễ. Dù sao, cũng xin cám ơn giáo xứ Don Bosco đã giúp chúng tôi cơ hội suy niệm sâu sắc mầu nhiệm chịu nạn của Ngôi Hai Thiên Chúa. Chỉ xin thưa cùng qúy bạn: việc cử hành phụng vụ của qúy bạn chưa thể hiện đầy đủ tinh thần hợp đoàn như các tín hữu của nhà thờ Thánh Bênêđíctô ở Hồng Kông, và của nhà thờ Cheongdam ở Hán Thành. Giọng đọc kinh chung của quí bạn còn rời rạc, trầm bổng khác nhau, nhất là khi đứng, khi qùy, khi bái gối, các bạn không làm cùng một nhịp, thậm chí có người làm người không. Những điều này có thể không quan trọng đối với các bạn, nhưng với tôi, tôi vẫn đi tìm những thứ ấy.
Cảm tưởng cuối cùng: phải chăng sự kiện trên có liên hệ tới việc hình như cả giáo hội Hồng Kông lẫn giáo hội Đại Hàn không dựa nhiều vào các giáo sĩ ngoại quốc như giáo hội Đài Loan? Ở Hồng Kông cũng như ở Hán Thành, các cha sở chúng tôi gặp đều là người bản quốc. Trong khi ở Đài Bắc, cha sở nhà thờ Don Bosco là người Hoa, nhưng cha đã khá cao tuổi, phần lớn các sinh hoạt đều dựa vào các cha trẻ người nước ngoài; cha sở nhà thờ Thánh Giuse Thợ là một người Ba Lan, chưa thông thạo ngôn ngữ Trung Hoa.
May mắn một điều, khi tới Hồng Kông và ngụ ở khách sạn Regal Riverside thuộc khu Shatin, Kowloon, gia đình gồm 10 người chúng tôi tìm được Nhà Thờ Thánh Bênêđíctô gần đó. Chỉ đi bộ chưa tới 10 phút là đã tới nơi, kịp thánh lễ Chúa Nhật thứ năm Mùa Chay. Nhà thờ khá khang trang, trang hoàng đơn giản, làm nổi bật tượng chịu nạn với hình Chúa Giêsu phục sinh trên một bức tường mầu xanh đậm trải dài suốt chiều ngang nhà thờ. Vị linh mục dáng người mảnh mai, với bộ râu quai nón đen mượt, có giọng đọc ấm áp, cử chỉ khoan hòa, đúng tư cách một thừa tác viên bí tích. Giáo dân phần lớn gồm những người từ trung niên trở lên, nghiêm chỉnh ngồi đầy khắp các hàng ghế còn mới. Lác đác cũng có một vài người trẻ, mà người nổi nhất chính là anh ca trưởng, điều khiển không phải chỉ là ca đoàn mà toàn thể cộng đoàn. Anh đứng ngay trên cung thánh để làm phận sự. Và phận sự ấy được anh chu toàn hết sức xuất sắc, khiến người ta không còn nhận ra đâu là ca đoàn đâu là cộng đoàn nữa. Tất cả là một, cùng cất lời ca tán tụng hồng ân Thiên Chúa. Tất nhiên trọn bộ phụng vụ được tiến hành bằng tiếng Quảng Đông, một thứ tiếng mà gia đình tôi hầu như không ai hiểu.
Rất may, ở các hàng ghế, ngoài các kinh sách bằng tiếng Trung Hoa, cộng đồng Thánh Bênêđíctô còn cung cấp các sách lễ Chúa Nhật bằng Anh Ngữ. Nên việc tham dự thánh lễ của gia đình tôi phần nào được tích cực hơn. Sự tích cực này được gia tăng phần nào nhờ bầu khí “hợp đoàn” của cộng đồng Thánh Bênêđíctô: muôn người như một, cùng đọc, cùng hát, cùng đứng, cùng ngồi, cùng làm dấu Thánh Giá, cùng bái lạy… không một ai làm gì riêng rẽ, không ai đọc riêng, không ai hát riêng, kể cả ca đoàn! Cộng đồng Thánh Bênêđíctô để lại cho gia đình tôi một ấn tượng tích cực hiếm có.
Ngày áp cuối cùng ở Hán Thành, chúng tôi gặp Chúa Nhật Lễ Lá. Để tránh phiền phức cho đoàn du lịch, gia đình tôi dậy thực sớm để tham dự thánh lễ 6 giờ sáng. Từ khách sạn Ellui ở đường Dosan, tiếp nối với đường Yeongdong tới nhà thờ Cheongdam trên đại lộ Samsung, đi bộ phải hơn 20 phút. Nhờ thời tiết mát dịu vào buổi sáng tháng Tư, nên cuộc đi bộ của chúng tôi khá thoải mái. Tường nhà thờ Cheongdam hướng ngay ra đại lộ Samsung, nhưng lối vào nhà thờ thì nằm ở một con hẻm. Đây là một ngôi thánh đường tương đối mới, khang trang hơn nhà thờ Thánh Bênêđíctô ở Kowloon, Hồng Kông. Cách trang trí cũng tương tự như nhà thờ vừa nhắc: các hàng ghế cũng được sắp xếp theo hình bán cung, tập trung vào bàn thờ phía trước, nhưng thay vì bức tường liền ở phía sau bàn thờ, người ta có gắn nhiều cửa kính mầu với các hình ảnh đạo rực rỡ. Tượng Chịu nạn với Chúa bị đóng đinh vẫn nổi bật giữa cộng đồng dân Người.
Chúng tôi hy vọng sẽ có cuộc diễn lại cảnh Chúa vinh quang tiến vào Giêrusalem ngày nào. Nhưng không, khi tới nơi, chúng tôi chỉ được trao cho những nhành lá nhỏ để tiến vào nhà thờ tham dự thánh lễ. Vị linh mục đã có mặt trên bàn thờ và các hàng ghế đã gần được chiếm hết. Cả linh mục lẫn cộng đoàn đều rất nghiêm chỉ, ăn mặc “bảnh bao”, một nét gần như đã thành văn hóa của Đại Hàn. Phụ nữ nào cũng có khăn trắng trùm đầu. Người vợ của một cặp vợ chồng trẻ đến sau chúng tôi cũng mở tấm khăn thủ sẵn trong túi sách ra và trùm lên đầu trước khi làm bất cứ hành vi nào khác để tham dự thánh lễ. Giáo dân nào cũng tiếp nhận một bản thông tin giáo xứ trong đó có các kinh sách chung để đọc trong Thánh Lễ và người nào cũng mở bản thông tin này để cùng thưa kinh sốt sắng. Giống cộng đồng Thánh Bênêđíctô ở Kowloon, Hồng Kông, cộng đồng Cheongdam cũng đồng thanh thưa kinh và ca hát, không phân biệt ca đoàn và cộng đoàn. Tuy ở đây không thấy sự xuất hiện của một ca trưởng, nhưng người ta nghe được một hợp ca duy nhất, hết sức đồng nhịp, như có người điều khiển. Có lẽ nhờ tiếng đàn chuyên nghiệp, vâng đúng là chuyên nghiệp, đặt trên thượng lầu cầm chịch chăng? Hay phải chăng tất cả các bài ca này đều là những bài ca quen thuộc, nặng phần cầu nguyện hơn trình diễn? Bản chất của thờ phượng cộng đồng phải chăng là thế?
Tuy nhiên, không như tại cộng đồng Thánh Bênêđíctô ở Hồng Kông, gia đình tôi không tìm được một kinh sách nào bằng tiếng Anh tại cộng đồng Cheongdam. Việc tham dự thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá của chúng tôi, vì thế, có phần kém tích cực hơn. Nhưng bạn đòi hỏi gì đây? Một thánh lễ đầy đủ giữa một cộng đồng những người cùng một niềm tin Công Giáo chưa đủ sao! Dù ngôn ngữ khác nhau, nhưng ai cũng hiểu là mình đang phụng thờ cùng một Thiên Chúa, theo cùng một nghi thức của Mẹ Giáo Hội, hiền thê Đức Kitô. Tuy nhiên, nếu có được một kinh sách nào đó bằng tiếng Anh, một ngôn ngữ ngày nay gần như được coi là phổ quát, thì có lẽ hay hơn. Nghĩ cho cùng, hình như người Đại Hàn không được hào phóng lắm. Đêm chúng tôi từ Quảng Châu bay qua Hán Thành, hỏi mượn đồ cắm điện thì khách sạn sẵn sàng mang tới tận phòng. Nhưng dùng bàn chải đáng răng mà khách sạn để sẵn trong phòng thì phải trả tiền. Còn nhớ hôm thanh tóan khách sạn (check-out), nhân viên khách sạn chỉ hỏi tôi mỗi một chuyện: có dùng bàn chải đánh răng không. Còn tiền nối internet thì tôi đã thanh toán trước đó: 30 phút, 10 ngàn wons, tương đương 10 dollars! Khách sạn có internet miễn phí, nhưng bạn phải xuống business center để sử dụng. Tại Thẩm Quyến và Quảng Châu, hai thành phố hình như phát triển trễ hơn Hán Thành, chúng tôi được sử dụng miễn phí internet ngay tại phòng thuê của mình. Người hướng dẫn du lịch của Đại Hàn cũng có khác với người hướng dẫn du lịch của Hồng Kông, Thẩm Quyến và Quảng Châu: họ không bận tâm đến việc cung cấp nước chai miễn phí cho đoàn du lịch.
Bất chấp tất cả những điều tiêu cực nhỏ mọn ấy, người Công Giáo Đại Hàn vẫn để lại trong tôi một điều rất hiếm trong phong cách thực hành đạo, cụ thể là phong cách cử hành việc thờ phượng chung, nó toát ra một tinh thần cộng đồng gắn bó như một, điều mà tôi thật sự thiếu thốn.
Đến Đài Loan, gia đình tôi thực sự bước vào Tuần Thánh. Nhưng dọc hành trình, chỉ toàn gặp cụ Tưởng cùng đền thờ chùa miễu. Có tới hàng trăm cụ Tưởng (Giới Thạch) tại một khu vườn nhỏ tại Cihu, thuộc huyện Taoyuan: cụ ngồi, cụ đứng, cụ cỡi ngựa, cụ toàn thân, cụ bán thân, cùng khắp và thật rối mắt. Không hiểu tại sao người ta lại đặt hàng trăm tượng của cụ ở một chỗ khá chật hẹp: mười mấy bức tượng quay mặt vào nhau trên một mảnh đất chỉ chừng 20 thước vuông, cái cao cái thấp, cái mặc quân phục, cái mặc áo nhà nho, cái mầu nâu, cái mầu xanh, mầu trắng… và rất nhiều mảnh đất như thế. Quả là thiếu thẩm mỹ, khiến người nhìn thấy nản. Không lạ gì thời Trần Thủy Biển (Chen Shui-bian) làm Tổng Thống, mấy trăm tượng của cụ bị tháo gỡ khắp nơi trên đảo. Nghe đâu ông ta còn thay đổi tên các lăng và đài kỷ niệm của cụ nữa. Có điều oái oăm, là cái ông tổng thống họ Trần này quả không hổ với cái tên “Biển” của mình nên đã “biển thủ” hàng trăm triệu dollars tiền công quĩ, do đó, hiện đang nằm đếm 20 cuốn lịch tại nhà lao. Tổng thống họ Mã (Ma Ying-jeou) hiện nay, vốn làm thông dịch viên cho Tưởng Kinh Quốc trước đây, lần lượt dựng lại tượng cụ ở khắp chốn, nhưng kém người Cộng Sản Việt Nam một bậc, vì không dám sửa lại tên công trường tự do tại Đền Tưởng Niệm Tưởng Giới Thạch ở Đài Bắc, sợ thành người “đồng khởi vùng lên mất tự do”.
Tại phần mộ cụ Tưởng, một phần mộ khá đơn giản, đặt trong một căn phòng vừa nhỏ vừa thấp vì cụ muốn được chôn vĩnh viễn tại nơi sinh quán là Fenghua, tôi theo lời căn dặn ghi trên tường dưới di ảnh cụ mà cúi đầu chào. Nhưng thực ra, tôi cúi đầu chào cây thánh giá kết bằng hoa trắng đặt trước mộ cẩm thạch đen của cụ. Cụ vốn là tín đồ của Phái Methodist, cùng là Kitô hữu như tôi, tuy cụ tin phong thủy hơn tôi. Trái với mộ phần này, Đền Kỷ Niệm cụ ở Đài Bắc thì hết sức nguy nga và đồ sộ, hơn hẳn đền Tôn Dật Tiên, hơn hẳn đền Khổng Tử ở Wen-Wu (Văn Vũ): 89 bậc kỷ niệm cụ 89 tuổi khi từ trần, khối đá làm cửa vòng cung nặng 7 tấn 5, cao 19 thước ghi dấu cụ qua đời năm 1975. Trong đền, cụ Tưởng chễm trệ “ngự” trên chiếc ghế bành cao chót vót, mình mặc áo nhà nho (hay quan lại?) tươi cười nhìn xuống thứ dân.
Đền chùa ở Đài Loan khá nhiều. Nổi nhất là chùa Chung Tai Chan ở Puli thuộc huyện Nantou, Đài Trung. Chúng tôi chưa từng gặp một ngôi chùa nào lớn và nguy nga tráng lệ như ngôi chùa này: tọa lạc trên một khu đất rộng 25 mẫu tây, tượng Phật bằng vàng, xây toàn bằng đá, lát hoa cương, nơi tu học của hơn 1,000 sư nam, sư nữ và mấy trăm tín hữu, sinh hoạt theo lối tự cung tự cấp như một đan viện xitô Công Giáo. Nó được đại sư Wei Chueh xây dựng trong 7 năm và được khánh thành năm 2001 làm trung tâm truyền bá Đạo Thiền (Chan) cho Đài Loan và khắp thế giới. Ngôi chùa nằm giữa một vùng đồi núi bao quanh, được sư nữ hướng dẫn mô tả như vị đại sư ngự giữa tòa sen với núi non chung quanh làm đài. Chính điện ở lầu 16 có tòa bảo tháp 7 tầng bằng gỗ mà không cần một chiếc đinh, đặt chính giữa, còn ở các tường chung quanh, là 30 ngàn (theo lời sư nữ, nhưng theo Wikipedia thì chỉ là 20 ngàn) ảnh khắc bằng đồng mô tả Phật ngồi thiền, được sư nữ cho hay, do nghệ nhân Việt Nam thực hiện, không phải vì giá rẻ, mà vì họ duy trì được nghệ thuật thủ công tinh vi.
Cũng tại lầu 16, sư nữ hướng dẫn, bằng một giọng tiếng Anh hết sức lưu loát, kể cho chúng tôi nghe tài quán thông của đại sư Wei Chueh: ngài dự kiến ngôi chùa này sẽ chịu được trận động đất mạnh 7.5 độ Ms (surface wave magnitude wave, đơn vị chính thức của Đài Loan) trong khi trận động đất xẩy ra hồi tháng 9 năm 1999 chỉ là 7.3 Ms. Có người nói nhỏ: phải chi ngài cố vấn cho các lò nguyên tử của Nhật, thì hay biết mấy!
Có người không tin đây là một ngôi chùa vì thật mà khó hoà hợp nó với ý niệm đơn giản và thoát tục của Phật Giáo. Chúng tôi có hỏi sư nữ hướng dẫn về giá xây cất nó, nhưng chỉ được trả lời là vô giá, giá của nó nằm ở trong tâm (có nguồn cho hay giá xây cất của nó là 650 triệu dollars Mỹ). Tuy thế, Chung Tai Chan từng bị chính phủ Đài Loan điều tra khi phong chức cho hàng chục sư nữ trẻ, con cái nhà giầu, mà không qua thời kỳ tu học cần thiết. Họ cũng không chịu cho các gia đình này biết ý định của con gái họ, chỉ thấy chúng “vanish into thin air” (như biến mất vào không khí) sau khi dự sinh hoạt hè do Chùa này tổ chức. Chung Tai Chan cũng can dự nhiều vào chính trị, mạnh mẽ ủng hộ việc thống nhất với Trung Hoa và các ứng viên tổng thống của Quốc Dân Đảng.
Kiếm một nhà thờ Công Giáo tại Đài Bắc, vì thế, có khó khăn đối với gia đình tôi. Vào internet, khu vực khách sạn chúng tôi ở có tới 5, 6 nhà thờ Công Giáo, trong đó có hai ngôi nằm cùng đường Nam Kinh Đông (East Nanking) là Nhà Thờ Đức Bà Nữ Vương Trung Hoa, và Nhà Thờ Đức Bà. Nhưng nhân viên khách sạn cho hay hai ngôi nhà thờ đó khá xa, nên đã chỉ cho chúng tôi Nhà Thờ Thánh Giuse Thợ nằm trong hẻm 158 đường Bade (đọc là Ba Đơ) gần đó. 9 giờ tối Thứ Năm Tuần Thánh, tuy mệt mỏi sau một ngày đi “tour”, gia đình tôi cũng đã cuốc bộ tới ngôi nhà thờ đó để dự giờ chầu Thánh Thể, cẩn thận mang theo cuốn Thánh Kinh bằng hai ngôn ngữ Anh và Hoa mà khách sạn để sẵn ở một ngăn bàn, điều mà cả ở Hồng Kông, Thẩm Quyến, Quảng Châu và Hán Thành đều không có, và chiếc laptop có giờ chầu Thánh Thể được chuyển tải từ internet xuống. Đến nơi, các giáo dân của giáo xứ này đã rời nhà thờ hầu hết, chỉ còn một hai người trong ca đoàn ở lại để tập dượt cho phụng vụ ngày hôm sau. Ngôi nguyện đường có đặt Mình Thánh, vì thế, thuộc riêng gia đình tôi. Quả là an ủi được nghe trình thuật mô tả lại khung cảnh Chúa lập phép Thánh Thể và được suy niệm theo Giờ Chầu đã chuyển tải từ internet. Hình ảnh yêu thương, phản bội, yếu đuối, thứ tha hòa nhập vào nhau làm nổi bật cuộc hành trình dương thế và cả cuộc hành trình “du hý” hiện tại của chúng tôi. Thiếu hai trợ cụ Thánh Kinh và Giờ Chầu kia, hẳn những hình ảnh ấy bớt đi nhiều tính sống động. Cả hai trợ cụ đó, chúng tôi đều không tìm thấy nơi ngôi thánh đường hoàn toàn dùng tiếng quan thoại này.
Ngỡ ngàng hơn nữa, chúng tôi vẫn nghĩ người Công Giáo Đài Bắc chắc chắn sẽ cử hành phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh, tưởng niệm việc Chúa chịu chết trên Thánh Giá, vào lúc 3 giờ chiều, giờ Chúa tắt hơi thở cuối cùng như người Công Giáo Sydney, nên đã chuẩn bị sẵn sàng tách khỏi đoàn du lịch để tham dự việc cử hành đó. Nhưng không, vị cha sở người Ba Lan, bằng một giọng tiếng Anh lưu loát, cho hay: việc cử hành đó chỉ diễn ra lúc 8 giờ tối, giờ chúng tôi lên máy bay rời Đài Bắc để trở lại Sydney. Cha còn cho biết thêm: không có nhà thờ nào ở đây cử hành phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh vào lúc 3 giờ chiều. Phải chăng vì đây là một xứ sở không Kitô Giáo, Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là một ngày nghỉ, nên việc cử hành kia chỉ diễn ra sau khi mọi người đã từ sở làm hay kinh doanh trở về nhà và ăn uống nghỉ ngơi đôi chút? Có thể đúng, nhưng đó không hẳn là lý do đầy đủ và ắt có. Việt Nam chưa bao giờ được mệnh danh là một xứ Kitô Giáo, nhưng tại đó, việc cử hành các nghi thức Tuần Thánh, ngay thời buổi này, cũng đâu có “low key” như thế.
Giáo xứ Thánh Giuse Thợ được một điều: có nghi thức đi đàng Thánh Gía vào lúc 3 giờ chiều, nhưng cha sở nhấn mạnh: chỉ bằng tiếng Trung Hoa. Một phụ nữ mặc thường phục nhưng có dáng dấp một nữ tu nói chen vào: ở nhà thờ Don Bosco, có thể có nghi thức bằng tiếng Anh; vả lại, có linh mục Việt Nam ở đấy. Nhưng địa chỉ và số điện thoại của nhà thờ đó thì cả cha sở và mấy giáo dân hiện diện đều không ai biết. Chúng tôi chỉ được các vị cung cấp tên nhà thờ bằng chữ Trung Hoa. Dĩ nhiên về lại Khách Sạn, vào internet, thì tìm ra địa chỉ và số điện thoại ấy dễ dàng, nhưng chúng tôi cũng thử nhân viên khách sạn (Brother Hotel) xem sao. Phải mất gần nửa giờ, 3 nhân viên khách sạn ấy mới cung cấp được hai chi tiết trên, sau khi lục lọi tới 10 “folders” dầy cộm: 123 Đường Minsheng Đông, khu 3. Quả là ngạc nhiên, chả lẽ Đài Bắc không có “White Pages” (niên giám điện thoại) như các thành phố khác trên thế giới?
Đúng như lời cha sở nhà thờ Thánh Giuse Thợ, nhà thờ Don Bosco cũng không cử hành phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh vào lúc 3 giờ chiều, dù ở đây, có tới 5 linh mục, trong đó, hai vị là người Việt Nam. Và nghi thức đi đàng Thánh Giá còn diễn ra muộn hơn nữa: lúc 7 giờ tối, liền sau đó là phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh vào lúc 7 giờ 30. Chúng tôi chọn nhà thờ này vì nghi thức cũng như nghi lễ được cử hành bằng hai ngôn ngữ: Hoa và Anh và rất có cơ may được rước lễ vì dù sao, xe chở chúng tôi ra phi trường chỉ rời khách sạn vào lúc 8 giờ 20.
Gia đình tôi tới nhà thờ sớm, lúc chưa lên đèn. Đây là ngôi nhà thờ đầu tiên trong cuộc hành trình của chúng tôi được thiết trí theo kiểu xưa, nghĩa là hình chữ nhật, tường gian cung thánh nổi bật bức tranh Chúa Giêsu đang giảng dạy, nổi bật đến nỗi người xem quên hết những gì ở chung quanh. Loanh quanh đi tìm một cuốn sách kinh hay sách lễ bằng tiếng Anh, nhưng không thấy. Leo lên cả nhà nguyện ở tầng trên, tìm khắp ngả, cũng không thấy. May gặp được ông từ nhà thờ, ông kiếm mãi, mới tìm được cuốn sách lễ bằng tiếng Anh, nhưng lại là cuốn sách lễ hàng ngày, không có tuần tam nhật thánh (triduum). Đang thắc mắc không biết giáo xứ này hiểu “song ngữ” Hoa và Anh ra sao, thì gần đến giờ cử hành, lúc nhà thờ đã lên đèn và giáo dân lục tục xuất hiện, được một chức việc khác trao cho cuốn đi đàng Thánh Gía, do một linh mục ngoại quốc, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, soạn thảo, tựa là Mary’s Way of The Cross: Đàng Thánh Giá Của Mẹ Maria bằng hai ngôn ngữ Hoa và Anh. Vội mở ra ngay và gặp được một nội dung thật mới lạ, diễn tả lại tâm tình của Đức Mẹ suốt 15 chặng đàng Thánh Giá của Con Trai mình. Ở mỗi chặng, tâm tình của ngài đều muốn biến cố ấy xẩy ra cách khác, cách yêu thương của người mẹ trước nhục hình khủng khiếp của con trai duy nhất. Nhưng rồi, ngài vội kết luận: nhưng tôi biết, mọi việc phải xẩy ra như thế, và tôi lặng lẽ bước theo hoặc cầu nguyện hoặc chiêm ngắm. Chỉ duy ở chặng 15, chặng Phục Sinh Khải Hoàn, Đức Mẹ không lặng lẽ nữa mà hân hoan tuyên xưng. Các Tông Đồ và cả Giáo Hội nữa cũng đã làm thế: không thể nào không tuyên xưng biến cố có một không hai: Chúa đã phục sinh!
Rất tiếc vị linh mục chủ tế mà ông từ nhà thờ cho biết là cha Vinh (Việt Nam) đã không đọc các tâm tình ấy, nhưng đọc các đoạn Tin Mừng xứng hợp với từng chặng. Ngài đọc bằng tiếng Trung Hoa ở chặng thứ nhất, bằng tiếng Anh ở chặng tiếp theo, và mẫu mực ấy được lặp đi lặp lại cho hết 15 chặng đàng Thánh Giá. Cộng đoàn cũng theo ngài lần lượt đọc kinh và hát bài Stabat Mater bằng tiếng Hoa ở chặng đầu, bằng tiếng Anh ở chặng sau và cứ thế cho đến hết các chặng…
Đến chặng 15, thì đồng hồ đã gần chỉ 8 giờ tối. Gia đình tôi buộc phải lặng lẽ rời nhà thờ Don Bosco để trở lại khách sạn, chuẩn bị ra phi trường, lòng những ân hận không được hôn chân Thánh Gía và rước lễ. Dù sao, cũng xin cám ơn giáo xứ Don Bosco đã giúp chúng tôi cơ hội suy niệm sâu sắc mầu nhiệm chịu nạn của Ngôi Hai Thiên Chúa. Chỉ xin thưa cùng qúy bạn: việc cử hành phụng vụ của qúy bạn chưa thể hiện đầy đủ tinh thần hợp đoàn như các tín hữu của nhà thờ Thánh Bênêđíctô ở Hồng Kông, và của nhà thờ Cheongdam ở Hán Thành. Giọng đọc kinh chung của quí bạn còn rời rạc, trầm bổng khác nhau, nhất là khi đứng, khi qùy, khi bái gối, các bạn không làm cùng một nhịp, thậm chí có người làm người không. Những điều này có thể không quan trọng đối với các bạn, nhưng với tôi, tôi vẫn đi tìm những thứ ấy.
Cảm tưởng cuối cùng: phải chăng sự kiện trên có liên hệ tới việc hình như cả giáo hội Hồng Kông lẫn giáo hội Đại Hàn không dựa nhiều vào các giáo sĩ ngoại quốc như giáo hội Đài Loan? Ở Hồng Kông cũng như ở Hán Thành, các cha sở chúng tôi gặp đều là người bản quốc. Trong khi ở Đài Bắc, cha sở nhà thờ Don Bosco là người Hoa, nhưng cha đã khá cao tuổi, phần lớn các sinh hoạt đều dựa vào các cha trẻ người nước ngoài; cha sở nhà thờ Thánh Giuse Thợ là một người Ba Lan, chưa thông thạo ngôn ngữ Trung Hoa.