Shahbaz Batti, bị sát hại hôm Thứ Tư, 2 tháng 3, vừa qua khi vừa rời căn nhà của mẹ tại Islamabad, là vị bộ trưởng duy nhất trong chính phủ Pakistan của Thủ Tướng Yousaf Raza Gilani. Ông sinh năm 1968, là người Công Giáo độc thân, được bầu vào quốc hội năm 2008, và được cử nhiệm làm Bộ Trưởng Các Nhóm Thiểu Số cũng từ năm đó. Khi được cử nhiệm, ông tuyên bố: ông nhận chức vụ này vì “những người bị áp bức, bị chà đạp và bị đẩy ra bên lề” của Pakistan. Ông nguyện dành trọn đời mình để “tranh đấu cho quyền bình đẳng của con người, cho công bình xã hội, cho tự do tôn giáo, và nâng cao cũng như lên sức mạnh cho các cộng đồng tôn giáo thiểu số”. Ông cũng thêm rằng ông muốn gửi “một sứ điệp hy vọng cho những ai đang sống một cuộc sống chán nản, vỡ mộng và tuyệt vọng”. Nhất là ông cam kết sửa đổi luật “phạm thượng” của nước ông. Để làm việc này, ông phát động chiến dịch toàn quốc cổ vũ hoà hợp liên tôn, đề nghị đưa ra đạo luật ngăn cấm các ngôn từ và trước tác gây hận thù, đề nghị dẫn nhập môn tôn giáo so sánh vào học trình và ấn định hạn ngạch (quota) để các nhóm tôn giáo thiểu số giữ các chức vụ trong chính phủ cũng như các ghế tại Thượng Nghị Viện.
Vì những hoạt động ấy, ông đã nhận được nhiều đe dọa đến mạng sống từ năm 2009, khi ông lên tiếng ủng hộ người Kitô Giáo Pakistan bị tấn công trong các cuộc bạo động tại Punjab. Các đe dọa này càng gia tăng khi ông lên tiếng bênh vực Asia Bibi, một Kitô hữu bị kết án tử hình năm 2010 vì tội “phạm thượng”.
Ngày 2 tháng 3, từ nhà mẹ ra đi, không người hộ tống, ông bị bắn gục bằng một loạt đạn và đã qua đời khi tới bệnh viện. Nhóm Tehrik-i-Taliban cho BBC hay: họ thực hiện cuộc bắn bỏ vì Bhatti là “tên phạm thượng có tiếng”.
Phản ứng
Farahnaz Ispahani, phụ tá của Tổng Thống Asif Ali Zardari, lên án vụ ám sát, cho rằng “Đây là một chiến dịch có phối hợp nhằm sát hại mọi tiếng nói tự do, tiến bộ và nhân đạo tại Pakistan”. Phần Tổng Thống Zardani, ông cam kết sẽ đánh trả các lực lượng của chủ nghĩa tối tăm và cho hay: “chúng ta sẽ không khiếp đảm cũng như rút lui”. Tuy nhiên, khi Thủ Tướng Yousaf Raza Gillani chủ tọa hai phút mặc niệm tại quốc hội, 3 dân biểu của Đảng Jamiat Ulema-i-Islam vẫn tiếp tục ngồi tại chỗ. Còn đại giáo trưởng của Pakistan thì cho hay vụ ám sát này có thể chỉ là “âm mưu của Mỹ nhằm làm mất danh dự của chính phủ Pakistan, của người Hồi Giáo và của chính Hồi Giáo”. Đại biểu Pakistan tại Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc là Asim Ahmad tuyên bố rằng liên kết vụ ám sát Bhatti với vấn đề phạm thượng là điều không đúng. Ông ta biện luận rằng tự do ngôn luận không thể biện minh cho việc làm mất danh dự và phạm thượng; “điều quan trọng là phải ngăn ngừa chiến dịch cố ý làm mất danh dự Hồi Giáo và vị Tiên Tri của tôn giáo này”.
Trong khi ấy, các viên chức của Liên Hiệp Âu Châu cũng như của Cao Ủy Nhân Quyền LHQ đều nhất loạt lên án vụ ám sát này và liên kết nó với “bầu khí bất khoan dung và bạo lực có liên quan với cuộc tranh luận về các luật phạm thượng đang gây tranh cãi”. Các chính phủ Thế Giới đều đã lên tiếng ca ngợi Bhatti là người can đảm, được mọi người trên thế giới ngưỡng mộ (Kevin Rudd của Úc), gọi kẻ sát nhân là “nhát đảm” (Thủ Tướng Gia Nã Đại), “đê tiện” (Chính Phủ Ấn Độ), hành vi ám sát là “tàn bạo và không thể chấp nhận được” (Thủ Tướng Anh)
Phản ứng của Tòa Thánh có hơi khác. Đức Hồng Y Tauran, Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, cho hay quả là một vinh dự và là một niềm vui được gặp Bhatti nhiều lần. Ngài cho hay vị bộ trưởng độc thân, trẻ trung và năng động này có lần tâm sự với ngài: “Con biết con sẽ bị ám sát chết, nhưng con xin hiến mạng sống con cho Chúa Giêsu và cho cuộc đối thoại liên tôn”. Đó là một con người “làm ta hãnh diện được làm Kitô hữu”.
Đức Hồng Y nói tiếp: bất chấp vụ ám sát này cũng như các phản ứng tiêu cực của một số người, một số nhóm, cuộc đối thoại liên tôn, nhất là với người Hồi Giáo, hiện vẫn đang tiến triển. Theo ngài, với Công Đồng Vatican II, “lần đầu tiên trong lịch sử huấn quyền, một phán đoán tích cực đã được đưa ra đối với các tôn giáo không phải là Kitô Giáo”. Sở dĩ ngài có phản ứng tích cực như vậy, là vì theo ngài, đối thoại liên tôn “là đối thoại giữa những người có đức tin. Nó không phải là cuộc đối thoại giữa các tôn giáo mà là giữa những con người cụ thể”.
Ngài giải thích rằng đây là “cuộc đối thoại giữa những con người tuyên xưng các tôn giáo khác nhau và mục tiêu của những con người này là tìm cách hiểu biết nhau, trao đổi các ơn phúc thiêng liêng, tôn trọng tự do lương tâm, tránh chủ nghĩa cải đạo nhưng chấp nhận để người ta thay đổi tôn giáo”. Bởi thế, theo Đức Hồng Y, “mỗi người đều nhất trí không từ bỏ các xác tín của mình nhưng cho phép mình được thách thức và sẵn sàng xem sét các vấn đề khác với cộng đồng mình, hy vọng nhờ thế thu lượm được sự hiểu biết sâu sắc hơn, giúp mình khách quan nhìn ra tôn giáo của người khác và phong phú hóa chính cuộc sống thiêng liêng của mình nhờ các yếu tố tích cực” của các tôn giáo kia.
Ngài nhấn mạnh tới 3 yếu tố cần thiết luôn luôn đi song song với nhau: bản sắc, quan điểm người khác (otherness) và việc trao đổi quan điểm. Đây không phải là vấn đề tạo ra một thứ tôn giáo phổ quát và đi đâu cũng lọt (passé-partout). Nhưng đúng hơn, đặt mình trước Thiên Chúa và dấn thân vào cuộc hành trình hướng tới sự thật.
Về bản sắc, Đức Hồng Y Tauran cho hay ta phải có một bản sắc rõ rệt về tôn giáo của mình. Đối với Kitô hữu, Chúa Giêsu là Cứu Chúa và là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. Không có bản sắc thiêng liêng này, người ta không thể đối thoại được. Chúng ta rất may mắn có được một vị giáo hoàng như Đức Bênêđíctô XVI, người biết dạy ta các nội dung của đức tin, vì đức tin không phải là một hợp thể xúc cảm, nó có các nội dung của nó.
Mặt khác, ta cần phải khiêm tốn, biết nhìn nhận các sai lầm hôm qua và hôm nay cũng như nhìn nhận các giá trị của người khác và hiểu biết nhau để sống hòa hợp và chia sẻ các giá trị chung. Trong lãnh vực này, Đức Hồng Y nhấn mạnh tới 4 chiều kích: đối thoại trong cuộc sống, có những liên hệ láng giềng tốt và năng gặp gỡ nhau; đối thoại trong việc làm, khi có dịp cùng nhau hợp tác mưu công ích, như trong các việc thiện nguyện; đối thoại thần học, khi có thể, để hiểu sâu sắc các gia tài tôn giáo của nhau; và đối thoại linh đạo.
Để tránh được chủ nghĩa chiết trung, Đức Hồng Y Tauran cho hay: chúng ta không muốn nói mọi tôn giáo ít nhiều đều như nhau, nhưng rõ ràng mọi tín hữu đều có phẩm gia như nhau. Hai điều ấy không phải là một. Bởi vậy, người Công Giáo cần khẳng định đức tin của mình một cách không hàm hồ. Các tôn giáo khác không nhất thiết tạo ra một thách thức tiêu cực. Trái lại, các tôn giáo này giúp ta suy tư âu sắc hơn về các dấu chỉ của Chúa Kitô trong tâm hồn các tín hữu của Người.
Một vị tử đạo
Đó chính là thái độ của Bhatti. Và các vị giám mục Pakistan đang xem sét đệ trình Tòa Thánh nhìn nhận tư cách tử đạo của ông. Đề nghị này sẽ được đem ra thảo luận trong hội nghị toàn thể của Hội Đồng Giám Mục Pakistan tại Multan trong các ngày 20-25 tháng 3 này.
Đức Cha Andrew Francis của Giáo Phận Multan, Chủ Tịch Ủy Ban Đối Thoại Liên Tôn của Hội Đồng, người phụ trách việc soạn thảo dự án, quả quyết rằng “Bhatti là người đã hy sinh mạng sống vì đức tin trong sáng vào Chúa Giêsu Kitô”. Ông là người “sống để cổ vũ các giá trị của Tin Mừng, như lòng cảm thương, tình đoàn kết, và sự quan tâm tới những người bị bỏ rơi. Chúng ta khởi sự hành động từ những giá trị ấy. Ta được mời gọi trở nên biết cảm thương với mọi người, bất kể tín ngưỡng, chủng tộc và văn hóa, nhất là trong những lúc khó khăn (như trận lụt vừa qua), để nói lên tình huynh đệ. Để tưởng niệm Bhatti, bổn phận của ta là tiếp tục không mệt mỏi cổ vũ đối thoại như khí cụ hiểu biết và trân quí nhau cũng như xây dựng hòa bình”.
Ngài nói thêm: “ở Pakistan, bổn phận đó được phát biểu chủ yếu trong cuộc đối thoại giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo. Trong cuộc đối thoại này, ta được mời gọi gửi tới toàn thể quốc gia một sứ điệp mời gọi mọi người xây đắp tình hòa hợp và đoàn kết giữa nhân dân Pakistan”.
Ngoài ra, theo huấn dụ của Đức Thánh Cha, Bhatti luôn trân qúi các giá trị như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và tự do lương tâm. Ông cũng chủ trương cần phải hợp tác một cách hữu hiệu với chính phủ và các cơ quan công quyền để phục vụ ích chung của quốc gia. Ông là gương sáng của can đảm, dấn thân, trung thành với Tin Mừng, với Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội. Ông luôn tuân theo kế hoạch Thiên Chúa dành cho đời ông. Ông là người thực hiện ý Thiên Chúa bằng đức tin, đức vâng lời, đức trông cậy và xác tín vào Nước Thiên Chúa.
Máu Kitô hữu và máu tín hữu Hồi Giáo
Trong khi ấy, phát ngôn viên Tòa Thánh là Cha Federico Lombardi, Dòng Tên, nhấn mạnh tới khía cạnh khác nhân cái chết của Bhatti. Cha cho hay: chống đối luật “phạm thượng” có thể nguy hiểm chết người cho cả Kitô hữu lẫn người Hồi Giáo. Bởi vì Bhatti là viên chức Pakistan thứ hai bị thảm sát vì chống lại luật này. Trước ông, vào tháng Giêng năm nay, Thống Đốc Tỉnh Punjab, là Salman Taseer, từng bị cận vệ của mình giết chết. “Cả hai bị giết cùng vì một lý do như nhau: cả hai đã chống lại luật phạm thượng, một luật mà từ bản chất vốn có tính phạm thượng, vì nó đã nhân danh Thiên Chúa để tạo ra bất công và chết chóc. Cả hai đều biết rõ mình có thể bị giết, vì từng bị đe dọa như thế một cách minh nhiên. Tuy nhiên, cả hai đã không từ bỏ cuộc chiến đấu cho tự do tôn giáo của mình, chống lại chủ nghĩa cuồng tín đầy bạo động, và quả thực họ đã trả giá hết sức đắt bằng chính máu mình”.
Điều bất ngờ là Taseer vốn là một người Hồi Giáo. Trong bài diễn văn với ngoại giao đoàn đầu tháng Giêng năm nay, Đức Bênêđíctô XVI đã trang trọng ca ngợi lòng can đảm của ông. Ông thực là “đồng chí” của Bhatti, người, trước khi bị thảm sát, từng nói rằng: “Xin cầu cho tôi. Tôi là người đã rút cầu phía sau mình: nên không thể mà cũng không muốn trở lui với việc dấn thân của mình. Tôi nguyện chiến đấu chống lại chủ nghĩa cực đoan và tôi nguyện tranh đấu bảo vệ người Kitô hữu cho đến chết”.
Phát ngôn viên Tòa Thánh cho rằng Bhatti “sừng sững như một chứng nhân anh dũng của đức tin và công lý” và “trong khi hai vụ sát nhân này khiến chúng ta đầy kinh hoàng và âu lo cho số phận Kitô hữu tại Pakistan, thì đồng thời và nghịch lý thay, ta cũng có một tia hy vọng vì một người Hồi Giáo và một người Kitô Giáo đã cùng chung đổ máu ra vì một chính nghĩa như nhau. Đây không còn chỉ là một đối thoại để hiểu biết nhau, hay một đối thoại dấn thân cho ích chung; từ cuộc đối thoại bằng cuộc sống, ta bước qua cuộc đối thoại bằng cái chết, bằng giá máu của ta để danh Thiên Chúa không bị bóp méo thành khí cụ của bất công. Trong tâm tình tưởng niệm Taseer và Bhatti, trong niềm biết ơn đầy xúc động đối với cách sống và cách chết của họ, những người thực sự tôn thờ Thiên Chúa phải tiếp tục chiến đấu, dù cho phải chết, nếu cần, để bảo vệ tự do tôn giáo, công lý và hòa bình”.
Chỉ muốn phụng sự Chúa Giêsu
Năm 2008, nhà xuất bản Marcianum Press cho xuất bản cuốn “Christians in Pakistan or Where Hope Is Tested” (Kitô Hữu tại Pakistan hay Nơi Hy Vọng Bị Thử Thách) ghi lại cuộc phỏng vấn Bhatti khi ông nhận chức Bộ Trưởng Các Nhóm Thiểu Số. Trong tác phẩm này, ông thuật lại phản ứng của ông khi được mời giữ các chức vụ công: “Tôi từng được mời giữ các chức vụ trong chính phủ với điều kiện phải từ bỏ cuộc chiến đấu của mình, nhưng tôi luôn khước từ, không lui bước dù phải chết. Tôi nói: ‘Không, tôi muốn được phụng sự Chúa Giêsu như một người dân thường’. Tôi hạnh phúc với lòng sùng kính này, chứ không muốn được nổi tiếng; tôi không muốn bất cứ chức vụ nào. Tôi chỉ muốn được ngồi dưới chân Chúa Giêsu. Tôi muốn cuộc sống tôi, tính khí tôi, các hành động của tôi nói thay cho tôi và cho mọi người thấy rằng tôi đang dấn bước theo Chúa Giêsu Kitô. Chính vì ý nguyện này, tôi muốn coi mình như may mắn hơn, nếu như trong cố gắng này và trong cuộc chiến đấu giúp người túng thiếu, người nghèo khổ, giúp các Kitô hữu bị bách hại và bị đầy đọa ở Pakistan này, tôi được Chúa Kitô chấp nhận lễ hy sinh đời tôi. Tôi muốn sống cho Chúa Kitô và chết cho Người. Tôi không thấy sợ tại đất nước này. Nhiều lần, người quá khích muốn giết tôi, nhiều lần họ muốn cầm tù tôi, họ đe dọa tôi, họ sách nhiễu tôi và khủng bố gia đình tôi… (Nhưng) bao lâu còn sống, bao lâu còn thở, tôi vẫn còn phụng sự Chúa Giêsu, phụng sự nhân loại khốn cùng, nhân loại đau khổ, người Kitô hữu, người túng thiếu, người nghèo đói”.
Vì những hoạt động ấy, ông đã nhận được nhiều đe dọa đến mạng sống từ năm 2009, khi ông lên tiếng ủng hộ người Kitô Giáo Pakistan bị tấn công trong các cuộc bạo động tại Punjab. Các đe dọa này càng gia tăng khi ông lên tiếng bênh vực Asia Bibi, một Kitô hữu bị kết án tử hình năm 2010 vì tội “phạm thượng”.
Ngày 2 tháng 3, từ nhà mẹ ra đi, không người hộ tống, ông bị bắn gục bằng một loạt đạn và đã qua đời khi tới bệnh viện. Nhóm Tehrik-i-Taliban cho BBC hay: họ thực hiện cuộc bắn bỏ vì Bhatti là “tên phạm thượng có tiếng”.
Phản ứng
Farahnaz Ispahani, phụ tá của Tổng Thống Asif Ali Zardari, lên án vụ ám sát, cho rằng “Đây là một chiến dịch có phối hợp nhằm sát hại mọi tiếng nói tự do, tiến bộ và nhân đạo tại Pakistan”. Phần Tổng Thống Zardani, ông cam kết sẽ đánh trả các lực lượng của chủ nghĩa tối tăm và cho hay: “chúng ta sẽ không khiếp đảm cũng như rút lui”. Tuy nhiên, khi Thủ Tướng Yousaf Raza Gillani chủ tọa hai phút mặc niệm tại quốc hội, 3 dân biểu của Đảng Jamiat Ulema-i-Islam vẫn tiếp tục ngồi tại chỗ. Còn đại giáo trưởng của Pakistan thì cho hay vụ ám sát này có thể chỉ là “âm mưu của Mỹ nhằm làm mất danh dự của chính phủ Pakistan, của người Hồi Giáo và của chính Hồi Giáo”. Đại biểu Pakistan tại Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc là Asim Ahmad tuyên bố rằng liên kết vụ ám sát Bhatti với vấn đề phạm thượng là điều không đúng. Ông ta biện luận rằng tự do ngôn luận không thể biện minh cho việc làm mất danh dự và phạm thượng; “điều quan trọng là phải ngăn ngừa chiến dịch cố ý làm mất danh dự Hồi Giáo và vị Tiên Tri của tôn giáo này”.
Trong khi ấy, các viên chức của Liên Hiệp Âu Châu cũng như của Cao Ủy Nhân Quyền LHQ đều nhất loạt lên án vụ ám sát này và liên kết nó với “bầu khí bất khoan dung và bạo lực có liên quan với cuộc tranh luận về các luật phạm thượng đang gây tranh cãi”. Các chính phủ Thế Giới đều đã lên tiếng ca ngợi Bhatti là người can đảm, được mọi người trên thế giới ngưỡng mộ (Kevin Rudd của Úc), gọi kẻ sát nhân là “nhát đảm” (Thủ Tướng Gia Nã Đại), “đê tiện” (Chính Phủ Ấn Độ), hành vi ám sát là “tàn bạo và không thể chấp nhận được” (Thủ Tướng Anh)
Phản ứng của Tòa Thánh có hơi khác. Đức Hồng Y Tauran, Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, cho hay quả là một vinh dự và là một niềm vui được gặp Bhatti nhiều lần. Ngài cho hay vị bộ trưởng độc thân, trẻ trung và năng động này có lần tâm sự với ngài: “Con biết con sẽ bị ám sát chết, nhưng con xin hiến mạng sống con cho Chúa Giêsu và cho cuộc đối thoại liên tôn”. Đó là một con người “làm ta hãnh diện được làm Kitô hữu”.
Đức Hồng Y nói tiếp: bất chấp vụ ám sát này cũng như các phản ứng tiêu cực của một số người, một số nhóm, cuộc đối thoại liên tôn, nhất là với người Hồi Giáo, hiện vẫn đang tiến triển. Theo ngài, với Công Đồng Vatican II, “lần đầu tiên trong lịch sử huấn quyền, một phán đoán tích cực đã được đưa ra đối với các tôn giáo không phải là Kitô Giáo”. Sở dĩ ngài có phản ứng tích cực như vậy, là vì theo ngài, đối thoại liên tôn “là đối thoại giữa những người có đức tin. Nó không phải là cuộc đối thoại giữa các tôn giáo mà là giữa những con người cụ thể”.
Ngài giải thích rằng đây là “cuộc đối thoại giữa những con người tuyên xưng các tôn giáo khác nhau và mục tiêu của những con người này là tìm cách hiểu biết nhau, trao đổi các ơn phúc thiêng liêng, tôn trọng tự do lương tâm, tránh chủ nghĩa cải đạo nhưng chấp nhận để người ta thay đổi tôn giáo”. Bởi thế, theo Đức Hồng Y, “mỗi người đều nhất trí không từ bỏ các xác tín của mình nhưng cho phép mình được thách thức và sẵn sàng xem sét các vấn đề khác với cộng đồng mình, hy vọng nhờ thế thu lượm được sự hiểu biết sâu sắc hơn, giúp mình khách quan nhìn ra tôn giáo của người khác và phong phú hóa chính cuộc sống thiêng liêng của mình nhờ các yếu tố tích cực” của các tôn giáo kia.
Ngài nhấn mạnh tới 3 yếu tố cần thiết luôn luôn đi song song với nhau: bản sắc, quan điểm người khác (otherness) và việc trao đổi quan điểm. Đây không phải là vấn đề tạo ra một thứ tôn giáo phổ quát và đi đâu cũng lọt (passé-partout). Nhưng đúng hơn, đặt mình trước Thiên Chúa và dấn thân vào cuộc hành trình hướng tới sự thật.
Về bản sắc, Đức Hồng Y Tauran cho hay ta phải có một bản sắc rõ rệt về tôn giáo của mình. Đối với Kitô hữu, Chúa Giêsu là Cứu Chúa và là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người. Không có bản sắc thiêng liêng này, người ta không thể đối thoại được. Chúng ta rất may mắn có được một vị giáo hoàng như Đức Bênêđíctô XVI, người biết dạy ta các nội dung của đức tin, vì đức tin không phải là một hợp thể xúc cảm, nó có các nội dung của nó.
Mặt khác, ta cần phải khiêm tốn, biết nhìn nhận các sai lầm hôm qua và hôm nay cũng như nhìn nhận các giá trị của người khác và hiểu biết nhau để sống hòa hợp và chia sẻ các giá trị chung. Trong lãnh vực này, Đức Hồng Y nhấn mạnh tới 4 chiều kích: đối thoại trong cuộc sống, có những liên hệ láng giềng tốt và năng gặp gỡ nhau; đối thoại trong việc làm, khi có dịp cùng nhau hợp tác mưu công ích, như trong các việc thiện nguyện; đối thoại thần học, khi có thể, để hiểu sâu sắc các gia tài tôn giáo của nhau; và đối thoại linh đạo.
Để tránh được chủ nghĩa chiết trung, Đức Hồng Y Tauran cho hay: chúng ta không muốn nói mọi tôn giáo ít nhiều đều như nhau, nhưng rõ ràng mọi tín hữu đều có phẩm gia như nhau. Hai điều ấy không phải là một. Bởi vậy, người Công Giáo cần khẳng định đức tin của mình một cách không hàm hồ. Các tôn giáo khác không nhất thiết tạo ra một thách thức tiêu cực. Trái lại, các tôn giáo này giúp ta suy tư âu sắc hơn về các dấu chỉ của Chúa Kitô trong tâm hồn các tín hữu của Người.
Một vị tử đạo
Đó chính là thái độ của Bhatti. Và các vị giám mục Pakistan đang xem sét đệ trình Tòa Thánh nhìn nhận tư cách tử đạo của ông. Đề nghị này sẽ được đem ra thảo luận trong hội nghị toàn thể của Hội Đồng Giám Mục Pakistan tại Multan trong các ngày 20-25 tháng 3 này.
Đức Cha Andrew Francis của Giáo Phận Multan, Chủ Tịch Ủy Ban Đối Thoại Liên Tôn của Hội Đồng, người phụ trách việc soạn thảo dự án, quả quyết rằng “Bhatti là người đã hy sinh mạng sống vì đức tin trong sáng vào Chúa Giêsu Kitô”. Ông là người “sống để cổ vũ các giá trị của Tin Mừng, như lòng cảm thương, tình đoàn kết, và sự quan tâm tới những người bị bỏ rơi. Chúng ta khởi sự hành động từ những giá trị ấy. Ta được mời gọi trở nên biết cảm thương với mọi người, bất kể tín ngưỡng, chủng tộc và văn hóa, nhất là trong những lúc khó khăn (như trận lụt vừa qua), để nói lên tình huynh đệ. Để tưởng niệm Bhatti, bổn phận của ta là tiếp tục không mệt mỏi cổ vũ đối thoại như khí cụ hiểu biết và trân quí nhau cũng như xây dựng hòa bình”.
Ngài nói thêm: “ở Pakistan, bổn phận đó được phát biểu chủ yếu trong cuộc đối thoại giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo. Trong cuộc đối thoại này, ta được mời gọi gửi tới toàn thể quốc gia một sứ điệp mời gọi mọi người xây đắp tình hòa hợp và đoàn kết giữa nhân dân Pakistan”.
Ngoài ra, theo huấn dụ của Đức Thánh Cha, Bhatti luôn trân qúi các giá trị như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và tự do lương tâm. Ông cũng chủ trương cần phải hợp tác một cách hữu hiệu với chính phủ và các cơ quan công quyền để phục vụ ích chung của quốc gia. Ông là gương sáng của can đảm, dấn thân, trung thành với Tin Mừng, với Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội. Ông luôn tuân theo kế hoạch Thiên Chúa dành cho đời ông. Ông là người thực hiện ý Thiên Chúa bằng đức tin, đức vâng lời, đức trông cậy và xác tín vào Nước Thiên Chúa.
Máu Kitô hữu và máu tín hữu Hồi Giáo
Trong khi ấy, phát ngôn viên Tòa Thánh là Cha Federico Lombardi, Dòng Tên, nhấn mạnh tới khía cạnh khác nhân cái chết của Bhatti. Cha cho hay: chống đối luật “phạm thượng” có thể nguy hiểm chết người cho cả Kitô hữu lẫn người Hồi Giáo. Bởi vì Bhatti là viên chức Pakistan thứ hai bị thảm sát vì chống lại luật này. Trước ông, vào tháng Giêng năm nay, Thống Đốc Tỉnh Punjab, là Salman Taseer, từng bị cận vệ của mình giết chết. “Cả hai bị giết cùng vì một lý do như nhau: cả hai đã chống lại luật phạm thượng, một luật mà từ bản chất vốn có tính phạm thượng, vì nó đã nhân danh Thiên Chúa để tạo ra bất công và chết chóc. Cả hai đều biết rõ mình có thể bị giết, vì từng bị đe dọa như thế một cách minh nhiên. Tuy nhiên, cả hai đã không từ bỏ cuộc chiến đấu cho tự do tôn giáo của mình, chống lại chủ nghĩa cuồng tín đầy bạo động, và quả thực họ đã trả giá hết sức đắt bằng chính máu mình”.
Điều bất ngờ là Taseer vốn là một người Hồi Giáo. Trong bài diễn văn với ngoại giao đoàn đầu tháng Giêng năm nay, Đức Bênêđíctô XVI đã trang trọng ca ngợi lòng can đảm của ông. Ông thực là “đồng chí” của Bhatti, người, trước khi bị thảm sát, từng nói rằng: “Xin cầu cho tôi. Tôi là người đã rút cầu phía sau mình: nên không thể mà cũng không muốn trở lui với việc dấn thân của mình. Tôi nguyện chiến đấu chống lại chủ nghĩa cực đoan và tôi nguyện tranh đấu bảo vệ người Kitô hữu cho đến chết”.
Phát ngôn viên Tòa Thánh cho rằng Bhatti “sừng sững như một chứng nhân anh dũng của đức tin và công lý” và “trong khi hai vụ sát nhân này khiến chúng ta đầy kinh hoàng và âu lo cho số phận Kitô hữu tại Pakistan, thì đồng thời và nghịch lý thay, ta cũng có một tia hy vọng vì một người Hồi Giáo và một người Kitô Giáo đã cùng chung đổ máu ra vì một chính nghĩa như nhau. Đây không còn chỉ là một đối thoại để hiểu biết nhau, hay một đối thoại dấn thân cho ích chung; từ cuộc đối thoại bằng cuộc sống, ta bước qua cuộc đối thoại bằng cái chết, bằng giá máu của ta để danh Thiên Chúa không bị bóp méo thành khí cụ của bất công. Trong tâm tình tưởng niệm Taseer và Bhatti, trong niềm biết ơn đầy xúc động đối với cách sống và cách chết của họ, những người thực sự tôn thờ Thiên Chúa phải tiếp tục chiến đấu, dù cho phải chết, nếu cần, để bảo vệ tự do tôn giáo, công lý và hòa bình”.
Chỉ muốn phụng sự Chúa Giêsu
Năm 2008, nhà xuất bản Marcianum Press cho xuất bản cuốn “Christians in Pakistan or Where Hope Is Tested” (Kitô Hữu tại Pakistan hay Nơi Hy Vọng Bị Thử Thách) ghi lại cuộc phỏng vấn Bhatti khi ông nhận chức Bộ Trưởng Các Nhóm Thiểu Số. Trong tác phẩm này, ông thuật lại phản ứng của ông khi được mời giữ các chức vụ công: “Tôi từng được mời giữ các chức vụ trong chính phủ với điều kiện phải từ bỏ cuộc chiến đấu của mình, nhưng tôi luôn khước từ, không lui bước dù phải chết. Tôi nói: ‘Không, tôi muốn được phụng sự Chúa Giêsu như một người dân thường’. Tôi hạnh phúc với lòng sùng kính này, chứ không muốn được nổi tiếng; tôi không muốn bất cứ chức vụ nào. Tôi chỉ muốn được ngồi dưới chân Chúa Giêsu. Tôi muốn cuộc sống tôi, tính khí tôi, các hành động của tôi nói thay cho tôi và cho mọi người thấy rằng tôi đang dấn bước theo Chúa Giêsu Kitô. Chính vì ý nguyện này, tôi muốn coi mình như may mắn hơn, nếu như trong cố gắng này và trong cuộc chiến đấu giúp người túng thiếu, người nghèo khổ, giúp các Kitô hữu bị bách hại và bị đầy đọa ở Pakistan này, tôi được Chúa Kitô chấp nhận lễ hy sinh đời tôi. Tôi muốn sống cho Chúa Kitô và chết cho Người. Tôi không thấy sợ tại đất nước này. Nhiều lần, người quá khích muốn giết tôi, nhiều lần họ muốn cầm tù tôi, họ đe dọa tôi, họ sách nhiễu tôi và khủng bố gia đình tôi… (Nhưng) bao lâu còn sống, bao lâu còn thở, tôi vẫn còn phụng sự Chúa Giêsu, phụng sự nhân loại khốn cùng, nhân loại đau khổ, người Kitô hữu, người túng thiếu, người nghèo đói”.