Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam đã khai mạc sáng ngày 07 và kéo dài đến 08.12.2010 tại Hà nội với chủ đề ‘Ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững’, đánh giá tình hình kinh tế vĩ mô và đưa ra cam kết ODA cho Việt Nam năm 2011.

I.- NHÓM TƯ VẤN CÁC NHÀ TÀI TRỢ CHO VIỆT NAM.

Nhóm Tư vấn (thường được viết tắt CG, Consultative Group, tiếng Anh và Groupe consultatif, tiếng Pháp) họp thành Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam. Đó là một diễn đàn cho các cuộc thảo luận giữa chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ cho phát triển về các vấn đề chính sách kinh tế, chiến lược giảm nghèo và hiệu quả sử dụng vốn ODA (Official Development Assistant, tiếng Anh, và Aide publique au développement, tiếng Pháp). Đoàn chính phủ Việt Nam dự hội nghị bao gồm đại diện cấp cao của các Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Hội nghị họp dưới sự đồng chủ toạ của Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư với Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam.

Khi khai mạc, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Võ hồng Phúc nhận định Hội nghị lần này diễn ra trong bối cảnh đặc biệt. Năm nay là năm cuối của kế hoạch 5 năm 2006-2010, chuẩn bị một giai đoạn mới khi trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình. Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn về tài chính, thiên tai dịch bệnh, nhưng Việt-Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Tăng trưởng cả năm 2010 đạt khoảng 6,7%. GDP bình quan giai đoạn 2006-2010 đạt khoảng 7% và GDP đầu người hiện là 1.160 mỹ kim.

Phó thủ tướng Phạm gia Khiêm nhấn mạnh tầm quan trọng ODA trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011–2015. ODA sẽ đóng góp đáng kể vào tổng vốn đầu tư cần thiết cho kế hoạch phát triển dài hạn của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam trân trọng và sẽ nỗ lực hết sức để sử dụng nguồn vốn này hiệu quả nhất. Ông cho rằng mặc dù Việt Nam đã thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình nhưng vẫn là một nước nghèo. Trong thời gian tới, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7-7,5% nên nguồn vốn đầu tư cần được huy động tương đương 40% GDP, trong đó nguồn vốn ngoại quốc là 30%. Nhưng khi phát biểu, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa, nhấn mạnh rằng Việt Nam không nên phụ thuộc vào nguồn ODA vì vai trò nước này đã khác đi, tránh rơi vào tình trạng trì trệ của một nước thu nhập trung bình.

Các đại biểu đã thảo luận các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường quản trị nhà nước, giảm thiểu tham nhũng, làm cho phát triển bền vững và hòa nhập hơn, cũng như bàn về tương lai của quan hệ đối tác phát triển khi Việt Nam đã là quốc gia có thu nhập trung bình.

Họ đã thảo luận với Chính phủ về tình hình phát triển kinh tế vĩ mô gần đây và bày tỏ quan ngại về tình hình bất ổn gia tăng của nền kinh tế vĩ mô, đồng thời đưa ra một số giải pháp khuyến nghị. Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển Á châu tại Việt Nam Ayumi Konishi cho rằng mặc dù Việt nam tận dụng cơ hội quá trình gia nhập WTO để đẩy mạnh tốc độ cải cách, hiệu quả và năng lực của khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa được cải thiện. Ông đề nghị cần phải tách vai trò quản lý và sở hữu của Nhà nước, và khuyến khích Chính phủ để doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên các nguyên tắc thương mại và trên sân chơi bình đẳng với khu vực tư nhân. Các đối tác phát triển nhấn mạnh nhu cầu cần minh bạch hơn và quản trị nhà nước hiện đại, để phát triển khối kinh tế nhà nước hiệu quả, hầu mang lại nhiều lợi ích hơn cho xã hội và tránh các thảm tượng như Vinashin trong tương lai.

Đại sứ Thụy điển Staffan Herrstrỏm nêu bật tính cấp thiết của việc giải quyết vấn đề tham nhũng. Ông yêu cầu cần phải làm nhiều hơn nữa, đặc biệt trong việc tăng cường tính minh bạch, tiếp cận thông tin, phát triển thông tin đại chúng mạnh và tự do, nâng cao chế độ pháp quyền, tăng cường tính độc lập của tòa án và tăng sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự.

Thay mặt cho các nhà tài trợ đối tác phát triển, bà Giám đốc Ban Phát triển bền vững của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Jennifer Sarah đã lưu ý Chính phủ về vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững và những tệ nạn quốc gia khác, như nạn ô nhiễm nước và không khí, cũng như những thiệt hại không khắc phục được trong đa dạng sinh học và môi trường sống.

Ông Henning Plate, Tham tán Phát triển tại Tòa Đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức, ủng hộ việc đưa vấn đề khí hậu vào Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội đến năm 2020 và Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội đến năm 2015, cũng như trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của ngành và địa phương. Dù nhận nhiều hỗ trợ về tài chính để ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu, Việt Nam vẫn cần thêm nhiều vốn từ nguồn trong nước và tư nhân. Về điểm này, các đối tác phát triển kêu gọi Chính phủ cần sử dụng một cách có chiến lược nguồn hỗ trợ tài chính cho biến đổi khí hậu và các Bộ, ban ngành, địa phương cần có nguồn hỗ trợ tài chính để nâng cao năng lực, hỗ trợ kĩ thuật và đầu tư.

Cuối cùng, các đối tác phát triển cam kết 7,905 tỷ mỹ kim vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) để giúp Việt Nam ổn định kinh tế vĩ mô và tập trung vào các khía cạnh quan trọng của phát triển bền vững. Mức cam kết năm 2009 cho Việt Nam 2010 đạt 8,063 tỷ mỹ kim, tăng 3 tỷ mỹ kim so với 2009 và là mức cao nhất từ trước tới nay.

II.- HỔ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC.

Hổ trợ phát triển chính thức thường được gọi là vốn ODA là những số vốn dành cho các nước đang phát triển được các chính phủ trung ương và nhà cầm quyền địa phương, các tổ chức liên quốc gia các định chế tài chính quốc tếũ tài trợ. Vốn này phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, được các quốc gia hay định chế nói trên cam kết tài trợ thông qua một thỏa hiệp quốc tế được đại diện hai bên nhận và hổ trợ vốn ký kết. Những thỏa hiệp ký kết hổ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế.

Vốn ODA được Chính phủ một quốc gia cấp cho Việt-Nam thì gọi là hổ trợ song phương. Nếu vốn ODA được cấp bởi một Định chế quốc tế (Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Á châu…) cho Việt-Nam thì gọi là hổ trợ song phương.

Vốn ODA được phân bổ theo từng dự án. Chính phủ Việt-Nam lập danh sách các lĩnh vực cần gọi vốn hổ trợ (hay viện trợ) phát triển. Hàng năm, Chính phủ trình danh sách đó cho nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ để yêu cầu tài trợ. Các nhà tài trợ sẽ xác định lĩnh vực cần viện trợ, xây dựng dự án và tài trợ theo dự án.

Sau khi bộ đội Việt Nam rút khỏi Cambodge năm 1989, tháng 11.1993 tại Paris (Pháp quốc) đã diễn ra hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam để ghi dấu một trang sử mới trong quan hệ hợp tác phát triển của quốc gia này và cộng đồng thế giới, khởi đầu với 28 nhà tài trợ song phương đến từ các quốc gia phát triển (Nhật bản, Pháp, Đức, Đan mạch, Thụy sĩ, v.v….) nhà tài trợ đa phương (Ngân hàng Phát triển Á châu, Ngân hàng Thế giới, Liên hiệp Aâu châu, Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc, UNESCO, v.v….). Hoa kỳ chỉ tham gia từ sau năm 1994, khi bỏ cấm vận Việt Nam. Từ tháng 12.1998, hội nghị chính thức được tổ chức hàng năm tại Việt Nam để hứa tài trợ cho Việt Nam trong năm sau. Ngoài ra, hội nghị giữa kỳ được tổ chức vào tháng 5 hoặc tháng 6 hàng năm.

Từ năm 1993 đến 2009, các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết cho Việt Nam những khoản vay và viện trợ ODA 54 tỉ Mỹ kim. Việt-Nam thực hiện được những dự án trị giá 25,50 tỉ Mỹ kim, tức chỉ 47,18% số cam kết. Các lãnh vực được hưởng vốn ODA nhiều nhất ở Việt-Nam là các ngành thuộc hạ tầng như: giao thông, đô thị, nước sạch và môi trường, y tế và giáo dục. Vốn này đã có những góp phần quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam.

1.- Phân loại vốn ODA. Theo cách thức hoàn trả vốn ODA, chúng ta chia làm ba loại có:

a.- Viện trợ. Thường được gọi là ‘Viện trợ không hoàn lại’. Đây là những những số tiền để thực hiện các dự án ở nước nhận vốn ODA, theo sự thoả thuận trước giữa các bên. Có thể xem viện trợ như một nguồn thu ngân sách nhà nước, được cấp phát lại theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Viện trợ chiếm 25% tổng vốn ODA trên thế giới và được ưu tiên cho những dự án về các lãnh vực như y tế, dân số, giáo dục, môi trường... Đối với Việt-Nam, số bách phân này đã giảm dần với thời gian và nhường phần cho các khoản tín dụng.

b.- Tín dụng ưu đãi. Đây là loại vay chiếm phần lớn tổng số vốn ODA trên thế giới cũng như tại Quê hương. Tín dụng này thường được sử dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lãnh vực giao thông vân tãi, nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng...làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng kinh tế. Các điều kiện ưu đãi bao gồm:

- Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/năm),

- Thời gian cho vay và ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm)

c.- Tín dụng hỗn hợp. Đây là những số vốn ODA kết hợp hai dạng trên, bao gồm viện trợ và tín dụng ưu đãi. Thí dụ: Dự án BOT (Built-Operation-Transfer, tiếng Anh) gồm việc ‘Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao’. Vì thiếu vốn, chính phủ kêu gọi đấu thầu để chọn công ty bỏ vốn xây dựng (Built) trước. Khi hoàn thành, công ty được khai thác vận hành (Operation) một thời gian đủ có lời và sau cùng là chuyển giao (Transfer) lại cho nhà nước sở tại.

Nhận xét: Giá thành các dự án theo dạng BOT này thường được đẩy lên cao so với thực giá nhằm ‘bắt chẹt’ các quốc gia đối tác thiếu vốn để xây dựng hầu phát triển cơ sở hạ tầng và có quá nhiều nước đang phát triển cần vốn.

2.- Những bất lợi vì nhận ODA.

- Các nước giàu dùng các nguồn vốn ODA để áp lực các quốc gia nhận trợ giúp để mở rộng thị trường cho hàng hóa của họ, đòi hỏi những sự hợp tác có lợi cho họ, những nhượng bộ về an ninh, quốc phòng hay những mục tiêu chính trị... Do đĩ, họ có những chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế. Thí dụ: quốc gia nhận vốn ODA phải bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập cảng hàng hoá của nước được tài trợ hay các nước này phải mở lần hồi cửa thị trường cho những hàng hoá mới của nước cấp vốn ODA cùng chấp thuận những ưu đãi cho các nhà đầu tư trực tiếp nước họ vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.

- Các nước giàu cấp vốn ODA để yêu cầu các quốc gia đối tác nhập cảng các sản phẩm của họ, dù không phù hợp hay không cần thiết. Thí dụ: trong các dự án ODA về đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần lương trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% ngân khoản dự án. Ngoài ra, còn phải mua sắm trang thiết bị máy móc của họ giá cao vì chính họ duyệt chi tài chính giải ngân. Dự án xây dựng đường xe lửa cao tốc Bắc Nam trị giá sơ khởi 56 tỷ mỹ kim, sau khi bị Quốc hội bác, đang được Nhật bản ‘o bế’ hành pháp tái trình vì Việt Nam đã hứa.

- Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên. Đồng Việt-Nam không ngớt mất giá so với mỹ kim khiến giá thành tính bằng tiền đồng tăng cao.

- Tình trạng thất thoát, lãng phí: xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA chưa được hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp... có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.

- Cuối cùng, nạn tham nhũng lan tràn trong việc thực thi các dự án vốn ODA. Thí dụ: Vụ PMU 18 tại Bộ Giao thông Vận tải vào năm 2006 hay vụ án tham nhũng sử dụng nguồn vốn ODA trong dự án Đại lộ Đông Tây ở thành phố Hồ chí Minh.

Tại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam năm nay, ngoài vấn đề tham nhũng thường nghe hàng năm, hai vấn đề ‘sự mất giá của tiền đồng’ và ‘lạm phát gia tăng’ đã được các diễn giả lo ngại vì có thể làm ảnh hưởng lòng tin của họ tới sự ổn định kinh tế vĩ mô. Đó là hai đề tài chúng ta sẽ đề cập trong các bài sau.