Cuộc thăm viếng Tây Ban Nha lần này của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI rõ ràng không có mầu sắc chính trị. Chính vì thế, trên đường tới Santiago de Compostela ngài chỉ suy niệm về ý nghĩa của hành hương và ý nghĩa tôn giáo trong nghệ thuật kiến trúc của Gaudí.
Hành hương
Ngày 7 tháng 11, trên chuyến máy bay tới Santiago, để trả lời câu hỏi được Cha Lombardi, đại diện báo chí, nêu ra, Đức Bênêđíctô XVI cho hay: đã đành Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, đâu cần phải đi đây đi đó mới gặp gỡ Người, nhưng đức tin, trong chính yếu tính của nó, vốn là một cuộc lữ hành. Chính vì thế, trong sứ điệp gửi hội nghị quốc tế về các đền thánh nhóm họp tại chính Santiago de Compostela trước đây, Đức Bênêđíctô XVI cho hay: ngài luôn sống triều đại của ngài trong tâm tình hành hương. Trên huy hiệu của mình, Đức Bênêđíctô XVI cũng cho vẽ hình vỏ sò, một biểu hiệu của người hành hương.
Về việc đức tin, trong yếu tính, vốn là một cuộc hành hương, Đức Thánh Cha cho hay điều ấy đã được thư Do Thái nhắc đến qua hình ảnh Ápraham, người đã lìa bỏ căn địa của mình để lên đường lữ thứ tìm về tương lai trong suốt quãng đời còn lại. Cái hướng chuyển động ấy nơi Ápraham mãi mãi vẫn còn trong hành vi đức tin, nội tâm trước nhất đã đành, nhưng cũng biểu lộ rõ rệt ra bên ngoài nữa.
Đức Thánh Cha cho hay: đôi khi cần phải bỏ lại phía sau cuộc sống hằng ngày, bỏ lại phía sau cái thế giới hữu dụng, cái thế giới chỉ nhằm các mục tiêu thực tiễn, để nó lại đàng sau để thực sự tiến bước trên ngả đường siêu việt, vượt quá bản thân mình và cuộc sống hàng ngày và nhờ thế tìm được tự do mới, tìm được thời gian suy niệm nội tâm, nhận dạng ra mình, nhìn ra người khác, nhìn ra Chúa và như thế là liên tiếp lên đường hành hương: không phải chỉ để lại đàng sau bản thân mình mà còn lữ hành với nhau nữa. Hành hương là tái hợp, chúng ta cùng đi với nhau để gặp gỡ người khác và nhờ thế cùng tái khám phá lẫn nhau.
Đức Thánh Cha cũng lưu ý tới chiều kích đào tạo tâm linh cho Âu Châu của chuyến hành hương Santiago de Compostela. Ngài cho rằng: thực hiện cuộc hành hương tại đây đang tạo ra và đã từng tạo ra bản sắc chung của Âu Châu. Cả nay nữa, phong trào hành hương này đang được tái sinh, người ta ước mơ được lên đường hành hương thiêng liêng và thực sự, được tìm thấy mình và do đó, tìm thấy thanh tĩnh, tự do, canh tân và tìm thấy Chúa.
Nghệ thuật
Thật thích thú được nghe Đức Thánh Cha nói tới hành hương một cách sâu sắc như thế trong ý nghĩa tôn giáo. Chủ đề thứ hai được cha Lombardi nêu ra và xin Đức Thánh Cha phát biểu ý kiến là công trình nghệ thuật của Antoni Gaudí, nhà kiến trúc sư vĩ đại của Tây Ban Nha thuộc thế kỷ 19. Những ai du hành từ Santiago de Compostela hướng lên phía bắc tới các địa danh như El Cebero (phép lạ Thánh Thể), Garabandal (Đức Mẹ hiện ra với 4 trẻ nữ), Loyola (quê hương Thánh Inhã, đấng sáng lập Dòng Tên), thế nào cũng tạt qua Astorga để chiêm ngưỡng công trình kiến trúc của Gaudí, tức tòa giám mục sở tại được ông thực hiện trong các năm 1887-1893 nghĩa là đồng thời với Vương Cung Thánh Đường Thánh Gia tại Barcelona. Nhưng không như Vương Cung Thánh Đường này, tòa giám mục Astorga là một công trình đã hoàn tất. Nó lộng lẫy đến độ hình như không vị giám mục nào “dám” cư ngụ trong tòa nhà đó. Hiện nay, nó trở thành địa điểm du lịch quốc tế.
Gaudí là một người Công Giáo nhiệt thành. Nhiệt thành đến độ về cuối đời, ông từ bỏ mọi công trình thế tục, và hiến trọn đời mình cho Đạo Công Giáo và Sagrada Família (Nhà Thờ Thánh Gia). Ông thiết kế nó với 18 ngọn tháp: 12 ngọn kính 12 Tông Đồ, 4 ngọn kính 4 Phúc Âm Gia, 1 ngọn kính Đức Mẹ và 1 ngọn kính Chúa Giêsu. Công trình đang tiến hành, thì tai họa xẩy ra: cháu gái và người cộng tác trung thành liên tiếp qua đời, tiếp theo là nền kinh tế của Barcelona xuống dốc. Năm 1918, người bảo trợ của ông qua đời. Ông trở thành người trầm lặng và lui về sống trong hầm Nhà Thờ Thánh Gia. Ngày 7 tháng 6 năm 1926, ông bị xe điện cán. Vì ăn mặc lôi thôi, túi không tiền, nên ông bị tài xế taxi từ chối chở đi nhà thương. Nhưng cuối cùng, cũng được chở tới một nhà thương thí, không ai nhận ra nhà nghệ sĩ vĩ đại này. Một ngày sau, bạn bè mới tìm thấy ông, nài nỉ đưa ông qua một bệnh viện tốt hơn, nhưng ông từ chối, muốn được ở lại với người nghèo. Ba ngày sau, ông qua đời, được an táng tại Sagrada Família.
Công trình của ông bị chậm lại, một phần cũng vì các bản thiết kế của ông bị nhóm vô chính phủ của thời Nội Chiến Tây Ban Nha hủy hoại năm 1938. Như đã biết, việc hoàn thành ngôi thánh đường này được dự trù vào năm 2026, năm kỷ niệm lần thứ 100 ngày ông qua đời.
Đặc điểm kiến trúc của Gaudí là các góc và đường cong lấy từ thiên nhiên. Thay vì dựa vào các hình kỷ hà, ông thích nhái lại thế người đứng thẳng. Các đường hypecbôn và parabôn lấy từ thiên nhiên rất dễ được tăng cường nhờ các cây thép, giúp cho các thiết kế của ông trông giống như các yếu tố trong thiên nhiên. Ông bảo: “Những ai biết dùng luật Thiên Nhiên làm điểm tựa cho các công trình mới mẻ của mình quả đã cộng tác với Đấng Hóa Công”.
Tính độc đáo của Gaudí khởi đầu bị nhiều người chế nhạo. George Orwell, nhà văn nổi tiếng của Anh, tác giả cuốn “Nineteen Eighty-Four”, nhân chuyến viếng thăm Barcelona hồi Nội Chiến, từng thú nhận là không ưa công trình của Gaudí. Nhưng với thời gian, người ta bắt đầu biết đánh giá đúng đắn công trình ấy và hiện nay, ông được coi là một trong các kiến trúc sư độc đáo nhất trong lịch sử.
Đối với Đức Bênêđíctô XVI, Sagrada Família là dấu chỉ cho thời đại ta. Trong cái nhìn của Gaudí, Đức Thánh Cha nhận thấy có ba yếu tố đáng lưu ý. Nó cho thấy một tổng hợp giữa liên tục tính và sự mới mẻ, giữa truyền thống và sáng tạo. Gaudí có cái can đảm đã đặt mình vào truyền thống vĩ đại của các nhà thờ chính tòa, dám làm sống lại thực tại nhà thờ đó, nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người một cách trang trọng. Nhưng lòng can đảm bám lấy truyền thống ấy lại có tính hết sức sáng tạo, nhằm đổi mới chính truyền thống này và nhờ thế đã nói lên cả tính thống nhất lẫn tính tiến bộ của lịch sử. Quả là một điều đẹp đẽ.
Thứ hai, Gaudí nhằm tam thức sau đây: một cuốn sách thiên nhiên, một cuốn sách thánh và một cuốn sách phụng vụ. Ngày nay, một tổng hợp như thế thật hết sức quan trọng. Trong phụng vụ, Sách Thánh trở thành hiện tại, trở thành thực tại ngày nay, không còn là một trước tác của 2,000 năm trước. Nó đang được cử hành và trở thành hiện thực. Và trong việc cử hành Sách Thánh, thiên nhiên lên tiếng nói với ta. Nó gặp gỡ sáng thế và tìm ra đáp ứng chân thực của mình, vì như thánh Phaolô từng nói, sáng thế đang đau khổ, nhưng thay vì bị tiêu diệt, khinh bỉ, nó chờ mong con cái Thiên Chúa tức những người nhìn ra ánh sáng Thiên Chúa nơi nó. Và do đó, sự tổng hợp của Gaudí giữa ý nghĩa của sáng thế, của Thánh Kinh và của thờ phượng quả là một sứ điệp hết sức quan trọng cho thế giới ngày nay.
Cuối cùng, theo Đức Thánh Cha, ngôi nhà thờ chánh tòa này đã thoát thai từ lòng sùng kính hết sức đặc trưng của thế kỷ 19 đối với Thánh Giuse, đối với Thánh Gia Nadarét, đối với mầu nhiệm Nadarét. Lòng sùng kính này tuy đã có từ những năm xưa nhưng có liên quan lớn lao với chúng ta ngày nay vì vấn đề gia đình, vì vấn đề canh tân gia đình như tế bào căn bản của xã hội. Ngày nay, nó là một vấn đề lớn lao. Nó chỉ cho ta biết phải đi đâu để vừa xây dựng xã hội vừa xây dựng sự thống nhất giữa đức tin và đời sống, giữa tôn giáo và xã hội. Gia đình là chủ đề nền tảng được phát biểu tại đây, với ý nghĩa Thiên Chúa đã trở nên người con của một gia đình và Người mời gọi ta gầy dựng và sống cuộc sống gia đình.
Đức tin trong thế giới nghệ thuật và văn hóa
Cha Lombardi sau đó đã đặt câu hỏi: làm thế nào đức tin có thể tìm lại vị thế của mình trong thế giới nghệ thuật và văn hóa ngày nay? Phải chăng điều này cũng là một trong các chủ đề quan trọng của triều đại ngài? Đức Bênêđíctô XVI quả quyết đúng như thế. Ngài luôn nhấn mạnh tới mối liên hệ giữa đức tin và lý trí. Đức tin, nhất là đức tin Kitô Giáo, chỉ có được bản sắc đích thực của mình khi cởi mở đối với lý trí. Còn lý trí, nó chỉ có thể trở nên chính nó khi biết vượt quá bản thân mình và vươn tới đức tin.
Nhưng mối liên hệ giữa đức tin và nghệ thuật cũng hết sức quan trọng, vì chân lý, tức mục tiêu của lý trí, luôn được mô tả trong cái đẹp và trở nên chính cái đẹp. Nó tự tìm thấy mình trong cái đẹp. Bởi thế, nơi nào có chân lý, nơi ấy cái đẹp được ra đời. Bất cứ nơi nào con người tự thể hiện mình một cách thích đáng và tốt lành, họ đều tự phát biểu trong cái đẹp. Mối liên hệ giữa chân lý và cái đẹp không thể bị bẻ gẫy và đó là lý do tại sao ta cần cái đẹp.
Trong Giáo Hội, ngay từ buổi ban đầu, nghĩa là ngay thời bị bách hại, nghệ thuật, tranh vẽ, diễn tả bằng hình ơn cứu độ của Thiên Chúa, các bài ca, rồi kiến trúc, tất cả đều đã trở thành yếu tố cấu thành đối với Giáo Hội và luôn vẫn là các yếu tố cấu thành như thế. Nhờ vậy, Giáo Hội chính là mẹ của nghệ thuật từ hàng bao thế kỷ qua. Cả một kho tàng nghệ thuật vĩ đại gồm âm nhạc, kiến trúc, hội họa, đã từ đức tin phát sinh ra trong Giáo Hội.
Ngày nay, đang có sự bất đồng, nhưng sự bất đồng này chỉ gây hại cho cả nghệ thuật lẫn đức tin: một nghệ thuật mà mất đi gốc rễ siêu việt, không còn hướng về Thiên Chúa nữa, thì chỉ là một nghệ thuật không hoàn chỉnh (dimezzata), thiếu cội rễ sinh tử. Còn đức tin, khi chỉ có thứ nghệ thuật xưa cũ, sẽ không còn là một đức tin của hiện tại nữa. Như thế, cuộc đối thoại hay gặp gỡ giữa nghệ thuật và đức tin đã được ghi khắc vào chính yếu tính sâu sắc nhất của đức tin. Theo Đức Thánh Cha, ngày nay, ta phải làm mọi cách để đức tin tự phát biểu mình ra trong nghệ thuật chân chính, như Gaudí từng làm, vừa liên tục với quá khứ vừa mới mẻ trong hiện tại, và để nghệ thuật không đánh mất sự tiếp xúc của nó với đức tin.
Dù sau đó, Đức Thánh Cha có đề cập đến lý do tại sao ngài ưu ái dành cho Tây Ban Nha ba cuộc tông du liên tiếp, nhưng theo ngài, chủ đích chuyến tông du lần này vẫn chỉ có hai chủ đề: hành hương và cái đẹp, diễn tả chân lý trong cái đẹp, diễn tả sự liên tục giữa truyền thống và canh tân. Cả hai chủ đề đó đều có chung một sứ điệp: hãy lên đường hành trình, đừng đánh mất hành trình đức tin, hãy tìm vẻ đẹp của đức tin, tìm cái mới và cả truyền thống của đức tin nữa, một vẻ đẹp biết mình phải tự diễn tả ra sao, biết phải cam kết ra sao với cái đẹp hiện đại, với thế giới ngày nay.
Cái đẹp mời gọi ta tới tự do và kéo ta ra xa lòng vị kỷ
Trong thánh lễ thánh hiến Nhà Thờ Sagrada Família, Đức Thánh Cha đặc biệt khai triển chủ đề cái đẹp. Đối với ngài, Sagrada Família là một thành tựu tuyệt vời của khoa công trình, của nghệ thuật và của đức tin. Và do đó, ngài đặc biệt nhắc tới “người từng là linh hồn và nghệ nhân của dự án này, Antoni Gaudí, nhà kiến trúc đầy sáng tạo và là một Kitô hữu nhiệt thành luôn giữ cho ngọn đuốc đức tin của mình rực sáng cho tới lúc tận cùng của cuộc đời, một cuộc đời sống trong phẩm giá và tuyệt đối khổ hạnh”.
Như để đề cao mối liên hệ đặc biệt của Gaudí đối với Thánh Giuse, vị thánh mà ông tin tưởng sẽ hoàn thành ngôi thánh đường vốn là tâm huyết sau cùng của ông này, Đức Thánh Cha lưu ý mọi người: vị giáo hoàng đang thánh hiến ngôi thánh đường ấy chính là người có tên rửa tội Giuse!
Nhưng tại sao lại thánh hiến nó? Ngài cho hay: “Ở giữa lòng thế giới, trước Thiên Chúa và nhân loại, với một hành vi đức tin đầy khiêm tốn và hân hoan, chúng ta dâng cấu trúc vật chất hết sức đồ sộ, vốn là hoa trái của thiên nhiên và là thành tựu mênh mông của trí khôn con người từng phát sinh ra công trình nghệ thuật này. Nó sừng sững như một dấu chỉ hữu hình của Thiên Chúa vô hình, Đấng mà vì vinh quang của Người những ngọn tháp kia đang vút cao lên như những mũi tên tiến về ánh sáng tuyệt đối và về Đấng vốn là Ánh Sáng, Vốn Là Chiều Cao và vốn là chính Cái Đẹp”.
Sau đó, Đức Thánh Cha nói tới sự tổng hợp ba chiều kích thiên nhiên, Thánh Kinh và phụng vụ trong công trình của Gaudí (xem phần trên). Ngài cho hay: nhà kiến trúc vĩ đại này “đã biến đá, cây và sự sống con người thành thành phần của ngôi thánh đường đến nỗi cả sáng thế đều cùng tụng ca Thiên Chúa. Nhưng cùng một lúc, ông cũng đã mang các hình ảnh thánh ra bên ngoài để đặt trước con người mầu nhiệm Thiên Chúa như đã được mạc khải qua việc sinh ra, việc chịu khổ, chịu chết và việc sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Bằng cách đó, ông đã góp tay một cách tuyệt vời vào việc xây dựng ý thức nhân bản của ta, một ý thức bám chặt vào thế giới nhưng mở cửa đón nhận Thiên Chúa, để Chúa Kitô soi sáng và thánh hóa. Nhờ thế, ông đã hoàn tất được một trong những trách vụ quan trọng nhất thời ta: vượt qua được sự phân rẽ giữa ý thức nhân bản và ý thức Kitô Giáo, giữa việc sống ở đời tạm này và việc mở cửa đón nhận sự sống đời đời, giữa cái đẹp của sự vật và Thiên Chúa, Đấng vốn là chính cái đẹp”.
Sau khi cho rằng Antoni Gaudí thực hiện việc trên “không bằng lời mà bằng đá, điểm, đường thẳng và mặt phẳng”, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh: “đẹp là một trong những nhu cầu lớn nhất của nhân loại; nó là gốc rễ phát sinh ngành lá hoà bình của chúng ta và là hoa trái phát sinh từ niềm hy vọng của ta. Cái đẹp cũng mạc khải Thiên Chúa cho ta vì, giống như Người, một công trình mỹ thuật chính là một quà tặng hoàn toàn nhưng không; nó mời gọi ta tới tự do và kéo ta ra xa lòng vị kỷ”.
Sau khi đề cập tới sự kiện Thiên Chúa là nền tảng mọi sự, Chúa Kitô là viên đá nâng đỡ toàn bộ sức nặng của thế giới, gìn giữ sự gắn bó của Giáo Hội và hợp nhất mọi thành tựu của nhân loại với nhau và ta có nhiệm vụ phải trình bày với thế giới khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, một Thiên Chúa của yêu thương, của hòa bình, của tự do, của hòa hợp, Đức Giáo Hoàng cho hay: việc thánh hiến Sagrada Família có tầm quan trọng lớn lao giữa một thời người ta cho rằng “họ có thể xây dựng cuộc sống họ mà không cần tới Thiên Chúa, như thể Thiên Chúa chả có gì để nói với họ”.
Ngài bảo: “Trong tuyệt tác phẩm này, Gaudí cho ta thấy: Thiên Chúa mới là thước đo thực sự của con người; bí quyết tạo ra sự độc đáo chân chính hệ ở việc trở về với nguồn cội của mình là Thiên Chúa, như chính lời ông nói. Tại thành phố này, nhờ biết mở tâm trí của mình ra với Thiên Chúa, Gaudí đã có thể sáng tạo ra một không gian đầy cái đẹp, đầy đức tin và đức cậy dẫn con người tới gặp Đấng vốn là sự thật và là cái đẹp. Nhà kiến trúc này diễn tả cảm xúc của ông bằng những lời lẽ sau: ‘ngôi thánh đường là phương tiện duy nhất đáng được dùng để diễn tả linh hồn của một dân tộc, vì tôn giáo là thực tại cao qúy nhất của con người’”.
Từ ý niệm trên, Đức Thánh Cha dẫn thính giả của ngài tới một cái đẹp khác đó là phẩm giá mỗi người và mọi người, một phẩm giá cần được khẳng định và bảo vệ vì “Há anh em không biết rằng anh em là đền thờ Thiên Chúa sao?... Đền thờ Thiên Chúa thì thánh thiện, và anh em chính là đền thờ đó” (1Cor 3:16-17). Muốn bảo vệ cái đẹp này, người ta không thể quên gia đình, vốn cũng là một chủ đề được liên kết chặt chẽ với Sagrada Família. Thánh Gia Nadarét chính là trường của yêu thương, cầu nguyện và làm việc. Ngài cầu mong mọi người trở thành ảnh tượng của cái đẹp thần linh, trở thành ngọn lửa bừng bừng của đức ái, trở thành con đường để thế giới tin vào Đấng Thiên Chúa đã sai tới (xem Ga 6:29). Ngài cũng nguyện ước: công trình nghệ thuât tuyệt vời Sagrada Família trở thành nơi “người nghèo tìm được xót thương, người bị áp bức tìm được tự do đích thực và mọi người có được phẩm giá của con cái Thiên Chúa”.
Hành hương
Ngày 7 tháng 11, trên chuyến máy bay tới Santiago, để trả lời câu hỏi được Cha Lombardi, đại diện báo chí, nêu ra, Đức Bênêđíctô XVI cho hay: đã đành Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, đâu cần phải đi đây đi đó mới gặp gỡ Người, nhưng đức tin, trong chính yếu tính của nó, vốn là một cuộc lữ hành. Chính vì thế, trong sứ điệp gửi hội nghị quốc tế về các đền thánh nhóm họp tại chính Santiago de Compostela trước đây, Đức Bênêđíctô XVI cho hay: ngài luôn sống triều đại của ngài trong tâm tình hành hương. Trên huy hiệu của mình, Đức Bênêđíctô XVI cũng cho vẽ hình vỏ sò, một biểu hiệu của người hành hương.
Về việc đức tin, trong yếu tính, vốn là một cuộc hành hương, Đức Thánh Cha cho hay điều ấy đã được thư Do Thái nhắc đến qua hình ảnh Ápraham, người đã lìa bỏ căn địa của mình để lên đường lữ thứ tìm về tương lai trong suốt quãng đời còn lại. Cái hướng chuyển động ấy nơi Ápraham mãi mãi vẫn còn trong hành vi đức tin, nội tâm trước nhất đã đành, nhưng cũng biểu lộ rõ rệt ra bên ngoài nữa.
Đức Thánh Cha cho hay: đôi khi cần phải bỏ lại phía sau cuộc sống hằng ngày, bỏ lại phía sau cái thế giới hữu dụng, cái thế giới chỉ nhằm các mục tiêu thực tiễn, để nó lại đàng sau để thực sự tiến bước trên ngả đường siêu việt, vượt quá bản thân mình và cuộc sống hàng ngày và nhờ thế tìm được tự do mới, tìm được thời gian suy niệm nội tâm, nhận dạng ra mình, nhìn ra người khác, nhìn ra Chúa và như thế là liên tiếp lên đường hành hương: không phải chỉ để lại đàng sau bản thân mình mà còn lữ hành với nhau nữa. Hành hương là tái hợp, chúng ta cùng đi với nhau để gặp gỡ người khác và nhờ thế cùng tái khám phá lẫn nhau.
Đức Thánh Cha cũng lưu ý tới chiều kích đào tạo tâm linh cho Âu Châu của chuyến hành hương Santiago de Compostela. Ngài cho rằng: thực hiện cuộc hành hương tại đây đang tạo ra và đã từng tạo ra bản sắc chung của Âu Châu. Cả nay nữa, phong trào hành hương này đang được tái sinh, người ta ước mơ được lên đường hành hương thiêng liêng và thực sự, được tìm thấy mình và do đó, tìm thấy thanh tĩnh, tự do, canh tân và tìm thấy Chúa.
Nghệ thuật
Thật thích thú được nghe Đức Thánh Cha nói tới hành hương một cách sâu sắc như thế trong ý nghĩa tôn giáo. Chủ đề thứ hai được cha Lombardi nêu ra và xin Đức Thánh Cha phát biểu ý kiến là công trình nghệ thuật của Antoni Gaudí, nhà kiến trúc sư vĩ đại của Tây Ban Nha thuộc thế kỷ 19. Những ai du hành từ Santiago de Compostela hướng lên phía bắc tới các địa danh như El Cebero (phép lạ Thánh Thể), Garabandal (Đức Mẹ hiện ra với 4 trẻ nữ), Loyola (quê hương Thánh Inhã, đấng sáng lập Dòng Tên), thế nào cũng tạt qua Astorga để chiêm ngưỡng công trình kiến trúc của Gaudí, tức tòa giám mục sở tại được ông thực hiện trong các năm 1887-1893 nghĩa là đồng thời với Vương Cung Thánh Đường Thánh Gia tại Barcelona. Nhưng không như Vương Cung Thánh Đường này, tòa giám mục Astorga là một công trình đã hoàn tất. Nó lộng lẫy đến độ hình như không vị giám mục nào “dám” cư ngụ trong tòa nhà đó. Hiện nay, nó trở thành địa điểm du lịch quốc tế.
Gaudí là một người Công Giáo nhiệt thành. Nhiệt thành đến độ về cuối đời, ông từ bỏ mọi công trình thế tục, và hiến trọn đời mình cho Đạo Công Giáo và Sagrada Família (Nhà Thờ Thánh Gia). Ông thiết kế nó với 18 ngọn tháp: 12 ngọn kính 12 Tông Đồ, 4 ngọn kính 4 Phúc Âm Gia, 1 ngọn kính Đức Mẹ và 1 ngọn kính Chúa Giêsu. Công trình đang tiến hành, thì tai họa xẩy ra: cháu gái và người cộng tác trung thành liên tiếp qua đời, tiếp theo là nền kinh tế của Barcelona xuống dốc. Năm 1918, người bảo trợ của ông qua đời. Ông trở thành người trầm lặng và lui về sống trong hầm Nhà Thờ Thánh Gia. Ngày 7 tháng 6 năm 1926, ông bị xe điện cán. Vì ăn mặc lôi thôi, túi không tiền, nên ông bị tài xế taxi từ chối chở đi nhà thương. Nhưng cuối cùng, cũng được chở tới một nhà thương thí, không ai nhận ra nhà nghệ sĩ vĩ đại này. Một ngày sau, bạn bè mới tìm thấy ông, nài nỉ đưa ông qua một bệnh viện tốt hơn, nhưng ông từ chối, muốn được ở lại với người nghèo. Ba ngày sau, ông qua đời, được an táng tại Sagrada Família.
Công trình của ông bị chậm lại, một phần cũng vì các bản thiết kế của ông bị nhóm vô chính phủ của thời Nội Chiến Tây Ban Nha hủy hoại năm 1938. Như đã biết, việc hoàn thành ngôi thánh đường này được dự trù vào năm 2026, năm kỷ niệm lần thứ 100 ngày ông qua đời.
Đặc điểm kiến trúc của Gaudí là các góc và đường cong lấy từ thiên nhiên. Thay vì dựa vào các hình kỷ hà, ông thích nhái lại thế người đứng thẳng. Các đường hypecbôn và parabôn lấy từ thiên nhiên rất dễ được tăng cường nhờ các cây thép, giúp cho các thiết kế của ông trông giống như các yếu tố trong thiên nhiên. Ông bảo: “Những ai biết dùng luật Thiên Nhiên làm điểm tựa cho các công trình mới mẻ của mình quả đã cộng tác với Đấng Hóa Công”.
Tính độc đáo của Gaudí khởi đầu bị nhiều người chế nhạo. George Orwell, nhà văn nổi tiếng của Anh, tác giả cuốn “Nineteen Eighty-Four”, nhân chuyến viếng thăm Barcelona hồi Nội Chiến, từng thú nhận là không ưa công trình của Gaudí. Nhưng với thời gian, người ta bắt đầu biết đánh giá đúng đắn công trình ấy và hiện nay, ông được coi là một trong các kiến trúc sư độc đáo nhất trong lịch sử.
Đối với Đức Bênêđíctô XVI, Sagrada Família là dấu chỉ cho thời đại ta. Trong cái nhìn của Gaudí, Đức Thánh Cha nhận thấy có ba yếu tố đáng lưu ý. Nó cho thấy một tổng hợp giữa liên tục tính và sự mới mẻ, giữa truyền thống và sáng tạo. Gaudí có cái can đảm đã đặt mình vào truyền thống vĩ đại của các nhà thờ chính tòa, dám làm sống lại thực tại nhà thờ đó, nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người một cách trang trọng. Nhưng lòng can đảm bám lấy truyền thống ấy lại có tính hết sức sáng tạo, nhằm đổi mới chính truyền thống này và nhờ thế đã nói lên cả tính thống nhất lẫn tính tiến bộ của lịch sử. Quả là một điều đẹp đẽ.
Thứ hai, Gaudí nhằm tam thức sau đây: một cuốn sách thiên nhiên, một cuốn sách thánh và một cuốn sách phụng vụ. Ngày nay, một tổng hợp như thế thật hết sức quan trọng. Trong phụng vụ, Sách Thánh trở thành hiện tại, trở thành thực tại ngày nay, không còn là một trước tác của 2,000 năm trước. Nó đang được cử hành và trở thành hiện thực. Và trong việc cử hành Sách Thánh, thiên nhiên lên tiếng nói với ta. Nó gặp gỡ sáng thế và tìm ra đáp ứng chân thực của mình, vì như thánh Phaolô từng nói, sáng thế đang đau khổ, nhưng thay vì bị tiêu diệt, khinh bỉ, nó chờ mong con cái Thiên Chúa tức những người nhìn ra ánh sáng Thiên Chúa nơi nó. Và do đó, sự tổng hợp của Gaudí giữa ý nghĩa của sáng thế, của Thánh Kinh và của thờ phượng quả là một sứ điệp hết sức quan trọng cho thế giới ngày nay.
Cuối cùng, theo Đức Thánh Cha, ngôi nhà thờ chánh tòa này đã thoát thai từ lòng sùng kính hết sức đặc trưng của thế kỷ 19 đối với Thánh Giuse, đối với Thánh Gia Nadarét, đối với mầu nhiệm Nadarét. Lòng sùng kính này tuy đã có từ những năm xưa nhưng có liên quan lớn lao với chúng ta ngày nay vì vấn đề gia đình, vì vấn đề canh tân gia đình như tế bào căn bản của xã hội. Ngày nay, nó là một vấn đề lớn lao. Nó chỉ cho ta biết phải đi đâu để vừa xây dựng xã hội vừa xây dựng sự thống nhất giữa đức tin và đời sống, giữa tôn giáo và xã hội. Gia đình là chủ đề nền tảng được phát biểu tại đây, với ý nghĩa Thiên Chúa đã trở nên người con của một gia đình và Người mời gọi ta gầy dựng và sống cuộc sống gia đình.
Đức tin trong thế giới nghệ thuật và văn hóa
Cha Lombardi sau đó đã đặt câu hỏi: làm thế nào đức tin có thể tìm lại vị thế của mình trong thế giới nghệ thuật và văn hóa ngày nay? Phải chăng điều này cũng là một trong các chủ đề quan trọng của triều đại ngài? Đức Bênêđíctô XVI quả quyết đúng như thế. Ngài luôn nhấn mạnh tới mối liên hệ giữa đức tin và lý trí. Đức tin, nhất là đức tin Kitô Giáo, chỉ có được bản sắc đích thực của mình khi cởi mở đối với lý trí. Còn lý trí, nó chỉ có thể trở nên chính nó khi biết vượt quá bản thân mình và vươn tới đức tin.
Nhưng mối liên hệ giữa đức tin và nghệ thuật cũng hết sức quan trọng, vì chân lý, tức mục tiêu của lý trí, luôn được mô tả trong cái đẹp và trở nên chính cái đẹp. Nó tự tìm thấy mình trong cái đẹp. Bởi thế, nơi nào có chân lý, nơi ấy cái đẹp được ra đời. Bất cứ nơi nào con người tự thể hiện mình một cách thích đáng và tốt lành, họ đều tự phát biểu trong cái đẹp. Mối liên hệ giữa chân lý và cái đẹp không thể bị bẻ gẫy và đó là lý do tại sao ta cần cái đẹp.
Trong Giáo Hội, ngay từ buổi ban đầu, nghĩa là ngay thời bị bách hại, nghệ thuật, tranh vẽ, diễn tả bằng hình ơn cứu độ của Thiên Chúa, các bài ca, rồi kiến trúc, tất cả đều đã trở thành yếu tố cấu thành đối với Giáo Hội và luôn vẫn là các yếu tố cấu thành như thế. Nhờ vậy, Giáo Hội chính là mẹ của nghệ thuật từ hàng bao thế kỷ qua. Cả một kho tàng nghệ thuật vĩ đại gồm âm nhạc, kiến trúc, hội họa, đã từ đức tin phát sinh ra trong Giáo Hội.
Ngày nay, đang có sự bất đồng, nhưng sự bất đồng này chỉ gây hại cho cả nghệ thuật lẫn đức tin: một nghệ thuật mà mất đi gốc rễ siêu việt, không còn hướng về Thiên Chúa nữa, thì chỉ là một nghệ thuật không hoàn chỉnh (dimezzata), thiếu cội rễ sinh tử. Còn đức tin, khi chỉ có thứ nghệ thuật xưa cũ, sẽ không còn là một đức tin của hiện tại nữa. Như thế, cuộc đối thoại hay gặp gỡ giữa nghệ thuật và đức tin đã được ghi khắc vào chính yếu tính sâu sắc nhất của đức tin. Theo Đức Thánh Cha, ngày nay, ta phải làm mọi cách để đức tin tự phát biểu mình ra trong nghệ thuật chân chính, như Gaudí từng làm, vừa liên tục với quá khứ vừa mới mẻ trong hiện tại, và để nghệ thuật không đánh mất sự tiếp xúc của nó với đức tin.
Dù sau đó, Đức Thánh Cha có đề cập đến lý do tại sao ngài ưu ái dành cho Tây Ban Nha ba cuộc tông du liên tiếp, nhưng theo ngài, chủ đích chuyến tông du lần này vẫn chỉ có hai chủ đề: hành hương và cái đẹp, diễn tả chân lý trong cái đẹp, diễn tả sự liên tục giữa truyền thống và canh tân. Cả hai chủ đề đó đều có chung một sứ điệp: hãy lên đường hành trình, đừng đánh mất hành trình đức tin, hãy tìm vẻ đẹp của đức tin, tìm cái mới và cả truyền thống của đức tin nữa, một vẻ đẹp biết mình phải tự diễn tả ra sao, biết phải cam kết ra sao với cái đẹp hiện đại, với thế giới ngày nay.
Cái đẹp mời gọi ta tới tự do và kéo ta ra xa lòng vị kỷ
Trong thánh lễ thánh hiến Nhà Thờ Sagrada Família, Đức Thánh Cha đặc biệt khai triển chủ đề cái đẹp. Đối với ngài, Sagrada Família là một thành tựu tuyệt vời của khoa công trình, của nghệ thuật và của đức tin. Và do đó, ngài đặc biệt nhắc tới “người từng là linh hồn và nghệ nhân của dự án này, Antoni Gaudí, nhà kiến trúc đầy sáng tạo và là một Kitô hữu nhiệt thành luôn giữ cho ngọn đuốc đức tin của mình rực sáng cho tới lúc tận cùng của cuộc đời, một cuộc đời sống trong phẩm giá và tuyệt đối khổ hạnh”.
Như để đề cao mối liên hệ đặc biệt của Gaudí đối với Thánh Giuse, vị thánh mà ông tin tưởng sẽ hoàn thành ngôi thánh đường vốn là tâm huyết sau cùng của ông này, Đức Thánh Cha lưu ý mọi người: vị giáo hoàng đang thánh hiến ngôi thánh đường ấy chính là người có tên rửa tội Giuse!
Nhưng tại sao lại thánh hiến nó? Ngài cho hay: “Ở giữa lòng thế giới, trước Thiên Chúa và nhân loại, với một hành vi đức tin đầy khiêm tốn và hân hoan, chúng ta dâng cấu trúc vật chất hết sức đồ sộ, vốn là hoa trái của thiên nhiên và là thành tựu mênh mông của trí khôn con người từng phát sinh ra công trình nghệ thuật này. Nó sừng sững như một dấu chỉ hữu hình của Thiên Chúa vô hình, Đấng mà vì vinh quang của Người những ngọn tháp kia đang vút cao lên như những mũi tên tiến về ánh sáng tuyệt đối và về Đấng vốn là Ánh Sáng, Vốn Là Chiều Cao và vốn là chính Cái Đẹp”.
Sau đó, Đức Thánh Cha nói tới sự tổng hợp ba chiều kích thiên nhiên, Thánh Kinh và phụng vụ trong công trình của Gaudí (xem phần trên). Ngài cho hay: nhà kiến trúc vĩ đại này “đã biến đá, cây và sự sống con người thành thành phần của ngôi thánh đường đến nỗi cả sáng thế đều cùng tụng ca Thiên Chúa. Nhưng cùng một lúc, ông cũng đã mang các hình ảnh thánh ra bên ngoài để đặt trước con người mầu nhiệm Thiên Chúa như đã được mạc khải qua việc sinh ra, việc chịu khổ, chịu chết và việc sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Bằng cách đó, ông đã góp tay một cách tuyệt vời vào việc xây dựng ý thức nhân bản của ta, một ý thức bám chặt vào thế giới nhưng mở cửa đón nhận Thiên Chúa, để Chúa Kitô soi sáng và thánh hóa. Nhờ thế, ông đã hoàn tất được một trong những trách vụ quan trọng nhất thời ta: vượt qua được sự phân rẽ giữa ý thức nhân bản và ý thức Kitô Giáo, giữa việc sống ở đời tạm này và việc mở cửa đón nhận sự sống đời đời, giữa cái đẹp của sự vật và Thiên Chúa, Đấng vốn là chính cái đẹp”.
Sau khi cho rằng Antoni Gaudí thực hiện việc trên “không bằng lời mà bằng đá, điểm, đường thẳng và mặt phẳng”, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh: “đẹp là một trong những nhu cầu lớn nhất của nhân loại; nó là gốc rễ phát sinh ngành lá hoà bình của chúng ta và là hoa trái phát sinh từ niềm hy vọng của ta. Cái đẹp cũng mạc khải Thiên Chúa cho ta vì, giống như Người, một công trình mỹ thuật chính là một quà tặng hoàn toàn nhưng không; nó mời gọi ta tới tự do và kéo ta ra xa lòng vị kỷ”.
Sau khi đề cập tới sự kiện Thiên Chúa là nền tảng mọi sự, Chúa Kitô là viên đá nâng đỡ toàn bộ sức nặng của thế giới, gìn giữ sự gắn bó của Giáo Hội và hợp nhất mọi thành tựu của nhân loại với nhau và ta có nhiệm vụ phải trình bày với thế giới khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, một Thiên Chúa của yêu thương, của hòa bình, của tự do, của hòa hợp, Đức Giáo Hoàng cho hay: việc thánh hiến Sagrada Família có tầm quan trọng lớn lao giữa một thời người ta cho rằng “họ có thể xây dựng cuộc sống họ mà không cần tới Thiên Chúa, như thể Thiên Chúa chả có gì để nói với họ”.
Ngài bảo: “Trong tuyệt tác phẩm này, Gaudí cho ta thấy: Thiên Chúa mới là thước đo thực sự của con người; bí quyết tạo ra sự độc đáo chân chính hệ ở việc trở về với nguồn cội của mình là Thiên Chúa, như chính lời ông nói. Tại thành phố này, nhờ biết mở tâm trí của mình ra với Thiên Chúa, Gaudí đã có thể sáng tạo ra một không gian đầy cái đẹp, đầy đức tin và đức cậy dẫn con người tới gặp Đấng vốn là sự thật và là cái đẹp. Nhà kiến trúc này diễn tả cảm xúc của ông bằng những lời lẽ sau: ‘ngôi thánh đường là phương tiện duy nhất đáng được dùng để diễn tả linh hồn của một dân tộc, vì tôn giáo là thực tại cao qúy nhất của con người’”.
Từ ý niệm trên, Đức Thánh Cha dẫn thính giả của ngài tới một cái đẹp khác đó là phẩm giá mỗi người và mọi người, một phẩm giá cần được khẳng định và bảo vệ vì “Há anh em không biết rằng anh em là đền thờ Thiên Chúa sao?... Đền thờ Thiên Chúa thì thánh thiện, và anh em chính là đền thờ đó” (1Cor 3:16-17). Muốn bảo vệ cái đẹp này, người ta không thể quên gia đình, vốn cũng là một chủ đề được liên kết chặt chẽ với Sagrada Família. Thánh Gia Nadarét chính là trường của yêu thương, cầu nguyện và làm việc. Ngài cầu mong mọi người trở thành ảnh tượng của cái đẹp thần linh, trở thành ngọn lửa bừng bừng của đức ái, trở thành con đường để thế giới tin vào Đấng Thiên Chúa đã sai tới (xem Ga 6:29). Ngài cũng nguyện ước: công trình nghệ thuât tuyệt vời Sagrada Família trở thành nơi “người nghèo tìm được xót thương, người bị áp bức tìm được tự do đích thực và mọi người có được phẩm giá của con cái Thiên Chúa”.