Cuối tuần qua, Thượng Hội Đồng Trung Đông đã kết thúc giai đoạn 1, để chuẩn bị bước qua giai đoạn II. Trong những ngày cuối cùng của giai đoạn 1 này, Thượng Hội Đồng đã có những phát biểu cuối cùng và soạn thảo xong Phúc Trình Sau Thảo Luận.

Các diễn văn cuối cùng

Chiều Thứ Sáu và sáng Thứ Bẩy tuần trước là thì giờ dành cho các bài diễn văn sau cùng của các tham dự viên, kết thúc phần thứ nhất của nghị trình, trong đó, các giám mục và các tham dự viên khác có dịp nói lên điều các vị cho là quan trọng. Sáng Thứ Hai vừa qua, các vị thảo luận ‘bản phúc trình sau thảo luận” trước khi các nhóm làm việc bắt đầu hoạt động vào buổi chiều. Các nhóm làm việc này được phân chia dựa trên ngôn ngữ: hai nhóm nói tiếng Anh, các nhóm khác nói tiếng Ả Rập và tiếng Pháp. Các nhóm này sẽ tập trung vào việc khai triển các khuhyến cáo để đệ trình lên Đức Giáo Hoàng.

Hai chủ đề được nhắc tới trong bài diễn văn cuối cùng là: vai trò của Đức Giáo Hoàng và tình hình tại Iraq. Đức Hồng Y William Levada, tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, tuyên bố rằng Thánh Bộ của ngài đang xem sét việc trao đổi các quan điểm với các giáo hội Đông Phương về vai trò của Đức Giáo Hoàng, một vấn đề quan tâm không những của các giáo hội Đông Phương hiệp thông với Rôma mà còn của các giáo hội Chính Thống là các giáo hội rất gần gũi thân thiện với các giáo hội Công Giáo Đông Phương. Như Đức Cha Denys Chada, Tổng Giám Mục Alep, Syria, nói trong phòng Thượng Hội Đồng, “điều phân rẽ chúng ta với anh em Chính Thống là cái hiểu về quyền tối thượng của Phêrô. Tùy các nhà thần học tìm ra lối giải thích mới. Tại sao không đạt được tính thống nhất cho niềm tin, mà lại phải chấp nhận tính đa phức?”.

Chắc hẳn ngài phải cảm thấy hài lòng khi nghe Đức Hồng Y Levada tuyên bố với Thượng Hội Đồng vào chiều Thứ Sáu tuần trước: “Thánh Bộ của chúng tôi vốn đang xem sét việc triệu tập các Ủy Ban Tín Lý của Thượng Hội Đồng và các hội đồng giám mục của các giáo hội Đông Phương độc lập để thảo luận các vấn đề tín lý được quan tâm chung. Trong ngữ cảnh này, tôi dự định sẽ có cuộc nghiên cứu và trao đổi quan điểm về việc làm cách nào, thừa tác vụ của đấng kế vị Thánh Phêrô, với những đặc điểm tín lý chủ yếu của nó, được thi hành bằng nhiều cách khác nhau, theo nhu cầu đa dạng của thời gian và không gian”. Ngài nói tiếp: “đây là một chương nữa trong giáo hội học mà ta cần khám phá và hoàn tất”.

Tuy nhiên, các phát biểu gây xúc động hơn cả tại Thượng Hội Đồng luôn phát xuất từ Iraq và điều này đã xẩy ra vào chiều Thứ Sáu tuần trước. Vị Tổng Giám Mục của Babylon thuộc Giáo Hội Syria mô tả tình thế của Kitô hữu tại Iraq từ năm 2003 bằng những ngôn từ hết sức cảm kích. Ngài nói: “Kitô hữu là nạn nhân của một tình thế sát hại, và tình thế này đang tạo ra phong trào rời cư lớn lao ra khỏi Iraq”. Theo ngài, đến nửa số Kitô hữu đã rời xứ sở này từ năm 2003; và hiện nay, con số Kitô hữu tại đó chỉ còn 400,000 người (trước đây là 800,000 người).

Ngài nói: “Cuộc xâm lăng Iraq của Mỹ và đồng minh đã mang lại cho Iraq nói chung, và cho Kitô hữu nói riêng, sự tàn phá và tan hoang trên mọi bình diện… Các nhà thờ bị phá hủy, các giám mục, linh mục và giáo dân bị thảm sát, trong đó, nhiều người là nạn nhân của gây hấn. Các bác sĩ và doanh gia bị bắt cóc, nhiều người khác bị đe dọa, các kho lẫm và nhà cửa bị cướp phá…”.

Trong hai năm qua, tình thế có khá hơn “nhưng người ta vẫn còn sợ điều chưa biết, điều bất an và bất ổn, cũng như việc tiếp tục rời cư, điều luôn làm người ta thắc mắc: nếu tình thế này cứ tiếp diễn thì tương lai người Kitô hữu sẽ ra sao?”

Ngài lên tiếng kêu gọi thế giới: “Bẩy năm đã trôi qua trong khi ấy Kitô Giáo vẫn đang rướm máu. Lương tâm thế giới đang ở đâu? Toàn bộ thế giới đang đóng vai bàng quan trước tình thế diễn ra tại Iraq, nhất là liên quan tới Kitô hữu. Chúng tôi muốn dóng lên tiếng báo động. Chúng tôi xin hỏi các đại cường: có thật đang có kế hoạch quét sạch Kitô hữu ra khỏi Trung Đông và Iraq là một trong các nạn nhân ấy?”

Các Kitô hữu Trung Đông thường cảm thấy Giáo Hội khắp thế giới đang bỏ rơi họ, và tại Thượng Hội Đồng, nhiều lời kêu gọi đã được khẩn khoản nói lên để các giám mục Tây Phương khuyến khích giáo dân mình đi hành hương các nơi thánh tại Trung Đông. Hành hương và thịnh vượng vốn có liên hệ với nhau, vì nhiều cộng đoàn Kitô Giáo lệ thuộc làn sóng hành hương để có kế sinh nhai; càng nhiều khách hành hương thì càng nhiều cơ hội sinh tồn và do đó càng bớt người ra đi. Đó chính là chủ đề then chốt tại Thượng Hội Đồng Trung Đông.

Đức Cha Emmanuel Dabbaghian, Tổng Giám Mục Babylon tại Iraq của Giáo Hội Armenia, đưa ra một đề nghị mới mẻ về phương diện này. Theo ngài, Đức Giáo Hoàng nên kêu gọi các giám mục của Giáo Hội khắp thế giới thực hiện các chuyến hành hương hàng năm tới Trung Đông, “ấn định một ngày nhất định cho mỗi giám mục”, để mọi ngày trong năm đều có vị đến, và như thế Đất Thánh sẽ có dân số là người hành hương. Những người hành hương này sau khi được ơn thánh Chúa phong phú hóa sẽ trở thành những người Samaritanô, làm chứng cho Chúa Kitô. Dĩ nhiên, cùng với các giám mục, ngài hy vọng nhiều người trong hàng ngũ giáo dân của các vị cũng sẽ tháp tùng các vị qua Đất Thánh, giống như các vị giám mục Âu Châu, từng hàng năm dẫn giáo dân mình đi hành hương Lộ Đức vậy. “Làn sóng hành hương tuốn đến Đất Thánh sẽ thuyết phục các cư dân từng rời cư trở về với quê cha đất tổ”.

Phúc trình tạm thời

Ngày 18 tháng 10, Thượng Hội Đồng Trung Đông đã soạn thảo xong “phúc trình sau khi thảo luận”, một bản tóm tắt tạm thời các chủ đề chính yếu mà cuộc họp lịch sử của hơn 180 giám mục trong vùng tin là ấn định ra các chính sách tương lai cho Giáo Hội. Phòng Báo Chí Tòa Thánh cho rằng bản phúc trình do Thượng Phụ Alexandria, Antonius Naguib, Tổng Thuyết Trình Viên của Thượng Hội Đồng, thu thập là một bản tóm lược khá trung thực các tham luận của Thượng Hội Đồng từ trước đến nay.

Các chủ đề trên sẽ được dùng làm căn bản để thảo luận trong những ngày tới tại các nhóm nói tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ả Rập. Sau khi thảo luận, phúc trình này sẽ được đệ trình Đức Bênêđíctô XVI.

Sau đây là 12 điểm chính của phúc trình

1. Nhiệm vụ truyền giáo. Giáo Hội tại Trung Đông là kết quả của sứ mệnh lịch sử truyền giảng Phúc Âm. Tài liệu nói rằng: “Truyền giảng trong hoà bình và tôn trọng không phải là chủ nghĩa cải đạo”.

2. Đòi tư cách công dân. Các Kitô hữu Trung Đông là “công dân bản địa”, phải được hưởng tự do trên quê hương họ. Thứ tự do được Thượng Hội Đồng xem sét bao gồm trong tính “thế tục tích cực”. Tuy nhiên, vì âm hưởng phản tôn giáo của chữ “thế tục”, nên nhiều nghị phụ thích dùng chữ “nhà nước dân chính” (civic state) hơn, dựa trên sự tôn trọng phẩm giá nội tại của mọi người và sự phân biệt lành mạnh giữa hai lãnh vực tôn giáo và dân sự. Thượng phụ Naguib nói thêm rằng: “Hệ thống này thừa nhận và bảo đảm tự do tôn giáo, tự do thờ phượng và tự do lương tâm. Không được chính trị hóa tôn giáo nhưng nhà nước cũng không được lấn lướt tôn giáo”. Các Kitô hữu cần được giáo dục để có thể nói lên quan điểm ấy về xã hội. Chià khóa của việc giáo dục này là các trường của Giáo Hội, nơi người ta học tập để biết trân quí niềm tin của người khác và niềm tin của chính mình.

3. Sự liên đới, nhất là “với người Palestine, những người mà tình huống hiện nay đang khích lệ chủ nghĩa cực đoan”, và với các Kitô hữu tại Iraq, “các nạn nhân chính của chiến tranh và các hậu quả của nó”.

4. Tự do lương tâm và tôn giáo. Tự do tôn giáo bao gồm quyền tuyên xưng đức tin của mình, khác với chủ nghĩa cải đạo, một chủ nghĩa bị Giáo Hội lên án vì sử dụng các phương tiện lừa đảo và bất lương, hay sử dụng quyền lực và của cải, để lôi kéo người theo. Trái lại, tuyên xưng đức tin “là công bố và trình bày niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô một cách than thản và hòa bình”.

5. Việc lớn mạnh của phe Hồi Giáo chính trị. Phải chống lại mưu toan “áp đặt lối sống Hồi Giáo lên mọi công dân, đôi khi bằng bạo lực”.

6. Di cư. Lý do khiến quá nhiều Kitô Hữu rời bỏ Trung Đông là “một chủ đề tốt cho cuộc đối thoại chân thành và thành thực với người Hồi Giáo”. Mặc dù di cư là một quyền tự nhiên, nhưng Giáo Hội nên khích lệ người ta ở lại “làm chứng nhân, làm tông đồ và người xây dựng hòa bình”. Điều quan trọng đối với Giáo Hội là “tránh cuộc đối thoại của người thua cuộc”, thay vào đó phải “phát huy các điều kiện khích lệ quyết định ở lại”.

7. Các Kitô hữu Trung Đông ở ngoại quốc. Các giáo hội chủ nhà ở ngoại quốc nên biết và tôn trọng các truyền thống Đông Phương. Các nghị phụ Thượng Hội Đồng rất muốn được mở rộng thẩm quyền của các Thượng Phụ Đông Phương tới con chiên tại hải ngoại “để chuyển từ ý niệm tòng thổ” của thẩm quyền thượng phụ qua “ý niệm tòng nhân”.

8. Nhu cầu nhập cư tới các quốc gia vùng Vịnh. Các công nhân di dân của Châu Phi và Châu Á đang cư trú tại các quốc gia vùng Vịnh hiện gặp nhiều lạm dụng, xử tệ, bất công và kỳ thị, nên họ cần nhiều chăm sóc mục vụ chuyên biệt hơn.

9. Sâu sắc hóa sự hiệp thông giữa các giáo hội Công Giáo trong Vùng. Nên có một cuộc hội thảo “liên nghi lễ” (nghĩa là bao gồm các nghi lễ Đông Phương khác nhau) tại mỗi quốc gia, và việc mục vụ chung do các giáo hội độc lập đảm nhiệm. Qua các hội đồng mục vụ liên nghi lễ này, các giám mục của nhiều nghi lễ khác nhau nên họp định kỳ như một nhóm duy nhất. Sự hiệp thông giữa nghi lễ Đông Phương và các giáo hội La Tinh nên được khuyến khích, theo hai cách: (a) Hàng giáo sĩ La Tinh của Tây Phương “cần được cung cấp kiến thức căn bản về thần học bí tích và giáo hội học của các giáo hội Đông Phương”; (b) Các thượng phụ Đông Phương nên được quyền bầu giáo hoàng sắp tới tại cơ mật viện. Các linh mục, tu sĩ và giáo dân của giáo hội này nên sẵn sàng phục vụ các giáo hội khác.

10. Đại kết. Việc sâu sắc hóa mối liên hệ với các giáo hội Kitô khác nên có ưu tiên lớn hơn, bắt đầu với Hội Đồng Các Thượng Phụ Công Giáo Đông Phương, để lập ra một ủy ban đại kết. Chúng ta nên cùng nhau cố gắng thống nhất hóa các ngày lễ Giáng Sinh và Phục Sinh giữa người Công Giáo và người Chính Thống, và tạo ra bản văn duy nhất bằng tiếng Ả Rập cho “Kinh Lạy Cha” và các kinh chủ yếu khác. Cuộc đối thoại đại kết phải bao gồm cuộc thảo luận chân thành về các nguyên nhân gây thương tổn, cả vấn đề người Công Giáo được người Chính Thống rửa tội. Đức Giáo Hoàng cũng có thể thành lập một ủy ban nhằm xem sét các cách mới mẻ để thi hành thẩm quyền giáo hoàng của ngài, những cách thế dựa trên các hình thức đã có trong Giáo Hội ở thiên niên kỷ thứ nhất.

11. Các liên hệ với người Do Thái Giáo. Giáo Hội bác bỏ chủ nghĩa bài Do Thái và bài Do Thái Giáo; “cuộc tranh chấp Do Thái Palestine đang ảnh hưởng tới các liên hệ giữa Kitô hữu và người Do Thái Giáo”. Giáo Hội sẽ tiếp tục làm việc cho một nền hòa bình lâu dài đặt căn bản trên an ninh và công lý. Sự hiện diện của người Công Giáo nói tiếng Hípri tại Israel cho ta cơ hội để đào sâu sự hiểu biết.

12. Các liên hệ với người Hồi Giáo. Nên thành lập các ủy ban đối thoại liên tôn tại địa phương và gia tăng các sáng kiến chung. Việc tiếp xúc với người Hồi Giáo có thể giúp các Kitô hiểu sâu hơn chính niềm tin của mình. “Liên hệ chân thực với Thiên Chúa không cần tính tôn giáo ồn ào náo động nhưng là sự thánh thiện chân chính”. Tự do tôn giáo là điều căn bản để phát triển mối liên hệ này. Các cơ quan bác ái Kitô Giáo và các định chế của xã hội dân chính nhằm phục vụ mọi người bất kể tín ngưỡng “đang góp phần vào việc phá đổ các bức tường ngờ vực và bác bỏ lẫn nhau”. “Dù chúng ta khác nhau trong cái hiểu về con người, về các quyền lợi và tự do của họ, ta vẫn có thể cùng nhau tìm ra nền tảng rõ ràng và dứt khoát để hành động chung, vì lợi ích của xã hội và đất nước chúng ta”.