VATICAN CITY (CNS) - Hai học giả Hồi giáo, một người Sunni và một người Shiite, tuyên bố trước Thượng hội đồng các Giám mục về Trung Đông rằng Hồi giáo đề cao lòng tôn trọng người Kitô hữu và Do thái giáo, và toàn bộ Trung Đông sẽ đau thương nếu như người Kitô giáo biến mất khỏi khu vực này.

Tuần qua, Đức giáo hoàng Benedict XVI đã mời hai học giả Hồi giáo đến nói chuyện trước Thượng hội đồng: Muhammad al-Sammak, người Sunni, cố vấn cho giáo trưởng Lebanon, đồng thời là tổng thư ký Ủy ban Đối thoại Kitô giáo-Hồi giáo của Lebanon; vị thứ hai là Ayatollah Seyed Mostafa Mohaghegh Damad Ahmadabadi, người Shiite, giáo sư trường Đại học Shahid Beheshti tại Tehran.

Sau đây là tóm tắt nội dung phát biểu của Al-Sammak trước Thượng hội đồng:
Muhammad al-Sammak


Tín hữu Kitô giáo không chỉ là những người duy nhất phải đau khổ tại Trung Đông và cũng không duy nhất là thành phần dân chúng muốn rời khỏi vùng này:

“Chúng tôi chia sẻ niềm khổ đau chung. Chúng tôi sống niềm đau đó trong cảnh trì trệ về chính trị và xã hội, trong bước thoái lui về phát triển và kinh tế, trong mối căng thẳng về nghề nghiệp và tôn giáo.”

Người Kitô giáo bị đặt làm mục tiêu tấn công, một “hiện tượng mới và tai hại”, chính bởi vì đức tin của họ là điều nguy hiểm chứ không phải chỉ vì họ là người Kitô hữu.

Khi tấn công các Kitô hữu, những người Hồi giáo cố chấp theo giáo điều, bị chính trị lèo lái và hướng dẫn sai lạc, đang xé nát tấm vải là các xã hội Trung Đông, nơi người Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo đã sống vai kề vai hàng bao nhiêu thế kỷ.

Họ cũng phô bầy ra hình ảnh một “Hồi giáo khác biệt với thứ tôn giáo chân thực” và phản lại một trong những giáo lý cơ bản của Hồi giáo: sự khác biệt giữa con người là kết quả bức họa thiết kế của Thượng đế và là một phần trong Thiên ý đối với nhân loại.

Sự di cư đi chỗ khác của người Kitô giáo làm cho thành phần người Ả rập còn lại khó sống được trọn vẹn căn tính của mình:

“Họ (những người Kitô hữu) là một thành phần không thể thiếu, làm nên văn hóa, văn chương và khoa học của nền văn minh Hồi giáo. Họ cũng là những người tiền phong trong thời phục hưng của Ả rập hiện đại và đã bảo tồn ngôn ngữ của thời này, ngôn ngữ của thánh kinh Koran.”

Ông hy vọng Thượng hội đồng sẽ là “một điều gì khác hơn tiếng kêu khóc của người Kitô giáo đau thương vang vọng trong thung lũng khổ đau này”, tức là Trung Đông.

Ông cũng hy vọng Thượng hội đồng sẽ đánh dấu bước khởi đầu của “một sự hợp tác giữa Hồi giáo-Kitô giáo để có thể bảo vệ người Kitô hữu và gìn giữ các mối quan hệ giữa Hồi giáo-Kitô giáo, để cho Trung Đông - nơi được thần thiêng mạc khải – xứng đáng giơ cao ngọn cờ đức tin, bác ái và hòa bình cho chính mình và cho toàn thế giới.”

Phần thứ hai là phát biểu của Ayatollah Mohaghegh Damad, nội dung tóm lược như sau:
Ayatollah Damad


Thiên kinh Koran coi sự liên hệ giữa Kitô giáo-Hồi giáo là một mối liên lạc “bằng hữu, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau”, dù đã có “những thời gian u ám” trong mối quan hệ suốt 1400 năm qua.

Tuy nhiên, “những hành động bất hợp pháp của một số cá nhân và phe nhóm” không nên được gán cho là của tôn giáo mà họ thống thuộc, như đổ tội cho Kitô giáo vì hành động của người Kitô hữu, hay kết tội Hồi giáo vì các hành động của người theo đạo Hồi.

Tại Iran và hầu hết các quốc gia Hồi giáo, “người Kitô hữu sống hòa bình bên cạnh những người anh em Hồi giáo của mình. Họ được hưởng các quyền lợi hợp pháp như các công dân khác và được tự do thực hành các nghi lễ tôn giáo.”

Các nhà lãnh đạo mọi tôn giáo phải chấp nhận rằng người theo đạo mình không còn cắt chia với những tín đồ các tôn giáo khác nữa, và các nhà lãnh đạo có bổn phận giúp tín đồ hiểu rằng họ có nghĩa vụ tôn trọng người khác.

Lý tưởng “sẽ là tình trạng người tín hữu bất cứ tôn giáo nào, tự do và không lo lắng, sợ hãi và ép buộc, có thể sống theo các nguyên tắc căn bản và các hình thái về tập tục và truyền thống của họ. Thứ quyền này, được toàn cầu công nhận, trong thực tế phải được các quốc gia và các cộng đồng thực hiện.”

Trước khi nói truyện trước Thượng hội đồng, hai học giả Hồi giáo này đã trả lời một số câu hỏi của các ký giả về vấn đề tự do thờ phượng và lương tâm trong các quốc gia đa số theo Hồi giáo.

Al-Sammak nói rằng tập tục Hồi giáo ngày xưa trừng phạt nặng nề những người Hồi giáo cải đạo, là di sản của một thời kỳ “khi thay đổi tôn giáo có nghĩa là gia nhập hàng ngũ kẻ thù; nó bị trừng phạt như là một hành động phản bội.”

Tuy có một số người Hồi giáo ngày nay nghĩ rằng nên trừng phạt những người cải đạo, nhưng al-Sammak nói “luật vàng” của Hồi giáo là “trong tôn giáo, không có ép buộc, đó là điều kinh Koran dạy.”

Ông nói: “Bạn được tự do chọn bất cứ tôn giáo nào trong lòng bạn, bởi vì tôn giáo là một vấn đề rất, rất riêng tư đối với mọi người, nhưng cải đạo lại có ý nghĩa khác.

Khi các ký giả thúc đẩy ông làm sáng tỏ thêm, ông nói: công khai tuyên bố rằng mình không còn thuộc thành phần của nhóm tôn giáo nguyên thủy của mình nữa là một hành động “tuyên truyền” không thể chấp nhận được.

Al-Sammak cũng nói với các ký giả rằng việc di cư người Kitô giáo ra khỏi Trung Đông là một biểu hiện cho thấy “thiếu dân chủ, thiếu tự do” trong vùng này, chứ không vì áp lực do tôn giáo thúc đẩy từ phía người theo đạo Hồi tạo ra.

Về tình trạng tàn khốc của người Kitô giáo tại Iraq, Al-Sammak nói họ đã bất đắc dĩ bị kẹt trong cuộc tranh giành quyền lực giữa người Hồi giáo Sunni và người Hồi giáo Shiite.

“Người Kitô giáo ở Iraq không – tôi nhấn mạnh là không – góp phần trong mối xung đột đó, nhưng “họ bị kẹt giữa cuộc xung đột và họ phải trả giá vì nó.”

Ông nói thêm: “Người Kitô giáo ở Iraq chẳng liên quan gì đến cuộc xâm lăng cả, họ không kêu cầu người Mỹ đến Iraq, họ không xin người Mỹ bảo vệ, vậy mà đôi khi họ bị đối xử như là thành phần trong cuộc Mỹ xâm lăng Iraq.”