Chuyến viếng thăm Anh của Đức Bênêđíctô XVI vừa qua bị một số người tại quốc gia này phản đối ầm ĩ, cho rằng ngài muốn tới Anh thì cứ việc tới nhưng không thể đến đó với tư cách quốc khách vì một lý do giản dị là người chịu thuế Anh không muốn chi tiền để đón tiếp một người đến đó không với mục đích nào khác mà chỉ để lên án chủ nghĩa duy thế tục, một chủ nghĩa được họ tôn sùng và được đại đa số người Anh tin theo.
Nói lấy được
Thực ra khi lên tiếng như thế, những người chống đối trên đã quên khuấy nhiều nguyên tắc căn bản của dân chủ. Mà nguyên tắc hàng đầu chính là nguyên tắc đại diện. Họ đã bầu người đại diện và ủy cho người đại diện này quyền thay mặt mình cai trị đất nước. Người đại diện ấy đã nhân danh họ mà hành động, mong đem lại công ích cho mọi người, về mọi phương diện. Về chuyến viếng thăm Anh của Đức Bênêđíctô XVI, người đại diện đã thay mặt họ mời Đức Giáo Hoàng qua thăm. Việc mời ấy đúng hay sai, họ có quyền phê phán, chỉ trích. Nhưng người để họ phê phán chỉ trích chỉ có thể là chính phủ Anh, chứ không thể là Đức Giáo Hoàng. Tuy nhiên, cung cách phản đối của họ cho thấy họ nhằm vào Đức Giáo Hoàng chứ không nhằm vào chính phủ của họ.
Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc đa số, một nguyên tắc mà trong quá khứ họ từng dùng để dựng lên nhiều rào cản chống lại thiểu số Công Giáo và ngày nay vẫn được họ dùng để cả vú lấp miệng em về nhiều chính sách nhằm làm băng hoại xã hội và nhân phẩm. Họ nói đa số dân Anh không muốn chào đón quốc khách Bênêđíctô XVI. Nhưng trước khi Đức Giáo Hoàng tới đây, Lord Patten, vị đại diện chính phủ Anh trong ban tổ chức cuộc viếng thăm, xác nhận rằng những người chống đối chỉ là thiểu số, một thiểu số bất khoan dung đối với tôn giáo, nhất là Công Giáo. Tạp chí The Tablet đã nhờ cơ quan chuyên môn Ipsos làm một cuộc thăm dò. Kết quả: 25% người dân Anh ủng hộ chuyến viếng thăm, trong khi 11% chống đối, còn 65% không chống đối mà cũng không ủng hộ. Như thế, thì đa số nằm ở chỗ nào?
Thực tế, từ ngày Đức Giáo Hoàng thực sự đặt chân lên đất nước Anh, cán cân còn nghiêng rõ hơn nữa về phía người ủng hộ ngài so với những người chống đối. Tại Tô Cách Lan, số người đứng hai bên đường phố Edinburgh hoan hô ngài lên đến 125,000, trong khi số người chống đối chỉ là 150, kể cả nhóm của Mục Sư Paisley, người chống đối Đức Giáo Hoàng vì một lý do khác hẳn. Hãng tin Zenit nhận xét: các đe dọa phản đối tại Tô Cách Lan đã trở thành số không. Tại Luân Đôn, tình hình có khá hơn cho những người chống đối: có tường trình cho hay con số họ lên đến 10,000, nhưng cũng không thiếu tường trình cho hay con số ấy chỉ là 5,000. Trong khi ấy, số người ủng hộ ngài trên đường phố lên đến 200,000, tuy con số ấy chỉ còn lại 80,000 tại buổi canh thức ở Hyde Park. Ấy là chưa kể những người lắng nghe ngài, cùng cầu nguyện với ngài tại nhà. Người ta ước lượng con số ấy có thể lên tới hàng triệu. Hãng tin Zenit ngày 20 tháng 9 cho hay: cơ sở xuất bản Magnificat đã phân phối khắp nước Anh và Tô Cách Lan hơn một triệu cuốn nghi lễ dùng cho chuyến viếng thăm của Đức Giáo Hoàng. Cuốn sách này bao gồm tất cả các bài đọc, lời cầu nguyện, và nhiều bài suy niệm dùng trong suốt chuyến viếng thăm, nhờ thế, những người ở nhà vẫn có thể hiệp thông để cùng cầu nguyện với Đức Giáo Hoàng. Đức Hồng Y O’Brien, Đức Tổng Giám Mục Nichols, Lord Patten và Tổng Giám Mục Anh Giáo Williams cùng đề tựa cho cuốn sách.
Chính danh
Đối với Đức Giáo Hoàng, dĩ nhiên đây là chuyến viếng thăm chính thức của ngài tại Anh Quốc và Tô Cách Lan trong tư cách quốc khách. Ngài khẳng định điều đó trên chuyến máy bay tới Tô Cách Lan. Nguyên văn câu trả lời báo chí của ngài về vấn đề này: “Tôi rất biết ơn Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị, người đã muốn dành cho chuyến viếng thăm này tư cách viếng thăm nhà nước, để nói lên đặc tính chính thức của chuyến viếng thăm lẫn trách nhiệm chung về chính trị và tôn giáo đối với tương lai lục địa và tương lai của cả nhân loại. Nó cho thấy trách nhiệm lớn lao chung phải làm sao để các giá trị vốn tạo ra công lý và nền chính trị và các giá trị phát sinh từ tôn giáo được hợp nhất với nhau trong thời đại ta”.
Tuy nhiên, như để nhấn mạnh đến điểm tương đồng và cũng dị biệt trên thực tế giữa ngôi vị giáo hoàng và ngôi vị nữ hoàng Anh, hai ngôi vị kể là độc đáo trên thế giới hiện nay, Đức Giáo Hoàng đề cập tới điểm đặc thù của chuyến viếng thăm nhà nước này. Thực vậy, trên lý thuyết và danh dự, nữ hoàng Anh vừa đứng đầu Vương Quốc Thống Nhất vừa đứng đầu Giáo Hội Anh Giáo thế nào, thì Đức Giáo Hoàng cũng vừa đứng đầu Thị Quốc Vatican vừa đứng đầu Giáo Hội Công Giáo như thế. Những người duy thế tục của Anh, khi lên tiếng chỉ trích tư cách quốc khách của Đức Giáo Hoàng, hình như cũng muốn chửi xéo tư cách thủ lãnh Giáo Hội Anh Giáo của Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị. Trên thực tế, trong khi quyền bính và trách nhiệm tôn giáo của Nữ Hoàng gần như đã trở thành số không, thì quyền bính và trách nhiệm tôn giáo của Đức Giáo Hoàng luôn là chủ điểm và mỗi ngày càng trở thành chủ điểm nhiều hơn. Chính vì vậy, ngài nói thêm: “Lẽ dĩ nhiên, sự kiện đây là một chuyến viếng thăm nhà nước về phương diện pháp lý vẫn không làm cho chuyến viếng thăm của tôi thành biến cố chính trị, bởi vì Đức Giáo Hoàng có là đầu của một nhà nước, thì điều này chỉ là một phương thế để bảo đảm cho sự độc lập của lời ngài công bố và cho tính công cộng của công việc mục vụ của ngài. Theo nghĩa đó, một cuộc viếng thăm nhà nước, xét trong bản thể và yếu tính, vẫn là một cuộc viếng thăm mục vụ, tức một cuộc viếng thăm trong trách nhiệm đức tin, một trách nhiệm vốn giải thích cho sự hiện hữu của ngôi vị Giáo Hoàng”.
Nói thế rồi, Đức Giáo Hoàng cho rằng việc xếp cuộc viếng thăm mục vụ này vào loại quốc khách giúp người ta lưu ý đặc biệt tới những điểm trùng phùng giữa các lợi ích chính trị và lợi ích tôn giáo. Xét về bản thể, chính trị mưu cầu việc bảo đảm công lý và với công lý là tự do. Nhưng công lý vốn là một giá trị luân lý và tôn giáo. Nên việc công bố đức tin rõ ràng có liên hệ tới chính trị trong lãnh vực công lý. Từ đó, phát sinh ra các quan tâm chung. Ngài cho rằng: “Đại Anh vốn có nhiều kinh nghiệm và nhiều hoạt động trong cuộc đấu tranh chống các tệ nạn thời nay như khốn cùng, nghèo khổ, bệnh tật, ma túy nhưng tất cả những cuộc đấu tranh chống khốn cùng, nghèo khổ, và các ách nô lệ của con người, cũng là các mục tiêu của đức tin bởi vì chúng hết thẩy đều là mục tiêu của việc nhân bản hóa con người ngõ hầu họ được phục hồi trở lại với hình ảnh Thiên Chúa từ cảnh đổ vỡ tan hoang”.
Điểm chung thứ hai là dấn thân cho hòa bình thế giới và khả năng được sống trong hòa bình, được giáo dục trong hòa bình. Là tạo ra các nhân đức giúp con người có khả năng hòa bình. Và sau cùng yếu tố chủ chốt của hòa bình là đối thoại liên tôn, là khoan dung, là việc con người cởi mở chào đón người khác. Mục tiêu sâu sắc đối với cả Đại Anh trong tư cách một xã hội lẫn đức tin Công Giáo là mục tiêu sau đây: mở cửa tâm hồn, mở cửa cho đối thoại, và do đó, mở cửa cho chân lý, cho cuộc hành trình chung của nhân loại và cho việc tìm lại các giá trị vốn làm nền tảng cho chủ nghĩa nhân bản của chúng ta.
Cái tính quốc khách dành cho chuyến viếng thăm chỉ có mục đích ấy. Thủ tướng David Cameron, trong một bài báo viết cho tờ The Tablet, cũng nhấn mạnh đến những điểm tương đồng giữa Đại Anh và Tòa Thánh Vatican. Theo ông, “Giáo Hội Công Giáo công bố một sứ điệp hòa bình và công lý cho thế giới và chúng ta đang làm việc mật thiết với sứ điệp ấy để đẩy mạnh hơn nữa các chính nghĩa này”. Ông cũng cho rằng “Giáo Hội Công Giáo và các cơ quan của nó đứng hàng đầu trong cuộc đấu tranh chống nghèo đói trên khắp thế giới và chúng ta, chúng ta làm việc với họ, với các cơ quan như Cafod, Sciaf, Trocaire và Caritas, ở Châu Phi, ở Châu Á và Châu Mỹ La Tinh. Tại vùng Hạ Sahara của Châu Phi, các cơ quan Công Giáo tại các giáo hội địa phương đang cung cấp một phần tư dịch vụ giáo dục và chăm lo sức khỏe, nhất là cho các nạn nhân bệnh AIDS”. Ngoài ra ông còn liệt kê sự đóng góp của Tòa Thánh vào Chương Trình Phát Triển Thiên Niên Kỷ của Liên Hiệp Quốc cũng như chiến dịch chống thay đổi khí hậu, hai chương trình được chính phủ của ông tiếp tục hỗ trợ hết mình.
Cuộc tranh luận công cộng
Đặt chân lên Tô Cách Lan và Anh, Đức Bênêđíctô XVI đã thể hiện đúng quan điểm của ngài về tư cách quốc khách của ngôi vị giáo hoàng. Trong buổi triều yết tại Quảng Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô ở Rôma, sau khi từ Birmingham trở về, ngài cho rằng trong bất cứ cuộc tông du nào, ngài cũng nhằm hỗ trợ cộng đồng Công Giáo địa phương, khuyến khích họ bênh vực các sự thật luân lý trường cửu; những sự thật vốn được Phúc Âm soi sáng và củng cố này chính là nền tảng của một xã hội nhân bản, công bình và tự do. Nhưng song song với mục tiêu ấy, ngài cũng đã nói với người dân của Vương Quốc Thống Nhất “về thực tại đích thật của con người, về các nhu cầu sâu sắc nhất của họ, về cùng đích tối hậu của họ”. Đối với một xã hội bị duy tục hóa cao độ như Nước Anh, tư cách quốc khách mới có thể giúp ngài lên tiếng một cách đầy đủ thế giá về những vấn đề như thế, một tiếng nói trên nóc mái nhà, đường đường chính chính, một thế giá mà Tổng Giám Mục Anh Giáo Rowan Williams không thể có được, như nhận định của Stephen Glover trên tờ Daily Mail mấy hôm trước đây.
Ngài không hề đòi hỏi tư cách quốc khách vì các lý do chính trị. Trên đường tới Tô Cách Lan, ngài khẳng định với báo chí: “Giáo Hội không làm việc cho chính mình, không làm việc để gia tăng con số, gia tăng quyền lực. Giáo Hội phục vụ Người Khác, không phục vụ chính mình. Giáo Hội không hiện hữu để trở thành một cơ cấu mạnh, nhưng đúng hơn, Giáo Hội phục vụ nhằm giúp người ta nghe lời công bố về Chúa Giêsu Kitô, về các chân lý vĩ đại, về những sức mạnh lớn lao của tình yêu, về hoà giải… “. Tổng Giám Mục Rowan Williams của Anh Giáo cũng nhất trí với ngài khi ông tuyên bố tại Đan Viện Westminster rằng: tôn giáo không đòi hỏi quyền lực chính trị hay vai trò thống trị trong đời sống công, mà chỉ đòi hỏi cơ hội được làm chứng, được biện luận, được đôi khi phản kháng, đôi khi khẳng nhận, nghĩa là được góp phần vào cuộc tranh luận công cộng của xã hội chúng ta…
Cuộc tranh luận ấy đã được Đức Bênêđíctô XVI tham dự trong tư cách ngang hàng với các nhà lãnh đạo Anh và Tô Cách Lan, thuộc đủ mọi phương diện: chính trị, văn hóa, tôn giáo, kinh tế, nghệ thuật… Và qua họ là với toàn thế giới thế tục. Ngài đủ tư cách để cho họ thấy: đẩy tôn giáo ra bên lề sinh hoạt công cộng là điều vừa trái với truyền thống cha ông họ, một truyền thống vốn nhìn nhận nơi vị quân vương một vai trò lãnh đạo tôn giáo, vừa phá hoại bản chất con người, vốn được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, đầy đủ tự do và phẩm giá.
Tại Đại Sảnh Westminster, nơi chủ tịch nghị viện Thomas More bị xử tử năm 1535 vì không chịu nhìn nhận quyền bính vua trên quyền bính Giáo Hội, và là nơi ngài được người kế nhiệm ông là John Bercow chào mừng, Đức Bênêđíctô không ngần ngại nhắc mọi người nhớ nét chính yếu trong phiên tòa xử Thomas More. Ngài bảo họ: “thế lưỡng nan của More trong thời buổi khó khăn ấy” chính là “vấn đề muôn thuở trong mối tương quan giữa điều thuộc về Xêda và điều thuộc về Thiên Chúa”. Ngài muốn họ “suy nghĩ… về chỗ đứng thích đáng của niềm tin tôn giáo trong diễn trình chính trị”.
Áp dụng vào trường hợp More, ngài nói với cử tọa trên rằng các vấn nạn căn bản trong vụ xử ông vẫn tiếp tục hiện diện trong xã hội ngày nay. Trong số các vấn nạn ấy, có vấn nạn quan trọng hàng đầu là “Phải dựa vào đâu để giải quyết các thế lưỡng nan luân lý?”
More và tất cả mọi người đàn ông cũng như đàn bà thời ông đều buộc phải hỏi và trả lời câu hỏi này: phải giải quyết vấn đề luân lý về ly dị và tái hôn trên căn bản nào? Phải chăng phải dựa vào ý kiến của người nắm quyền chính trị (Henry VIII) hay dựa trên các nguyên tắc luân lý trường cửu, các nguyên tắc vốn được Giáo Hội cổ vũ?
Tuy tình thế chính trị tại Anh trong 500 năm qua đã thay đổi nhiều, nhưng vấn đề sau vẫn y nguyên: đối với xã hội dân sự và chính trị, liệu có những nền tảng đạo đức nào mà ngay những nhà nắm quyền chính trị cũng không thể nào thay đổi được, kể cả thẩm quyền dân chủ? Theo Đức Bênêđíctô XVI, câu trả lời hiển nhiên là có. Vì “nếu các nguyên tắc luân lý bên dưới diễn trình chính trị chỉ được xác định một cách chắc chắn bằng sự đồng thuận có tính xã hội, thì rõ ràng diễn trình [dân chủ] ấy hết sức mỏng manh”. Ở đây, Đức Giáo Hoàng muốn nhắc tới các luật lệ phản sự sống được Nghị Viện Anh và nhiều nền dân chủ hiện đại thông qua trong mấy thập niên vừa rồi, nhân danh “sự đồng thuận có tính xã hội” (social consensus), nhưng rõ ràng đi ngược lại lợi ích đích thật của xã hội.
Ngài không trực tiếp nhắc tới phá thai, an tử hay dùng tế bào gốc phôi thai để nghiên cứu, nhưng ngài có đưa ra một điển hình về việc người ta “hy sinh” các nền tảng luân lý của xã hội. Đó là cuộc khủng hoảng tài chánh, sở dĩ xẩy ra vì người ta “hy sinh” các nền tảng luân lý lành mạnh để đổi lấy quyền lợi tư riêng và chủ nghĩa thực dụng, đem lại khó khăn cho bao nhiêu triệu người trên khắp thế giới. Ngài nhắc các nhà lập pháp Anh hiện nay rằng: các đồng nghiệp xưa của họ, khi bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ, đã không hẳn dựa vào ý kiến công cộng mà dựa vào các nguyên tắc đạo đức chắc chắn, bén rễ sâu trong luật tự nhiên”.
Nhưng “tìm ở đâu ra nền tảng đạo đức cho các quyết định chính trị?”. Đức Giáo Hoàng trả lời: lý trí con người có thể khám phá ra các qui phạm khách quan vốn hướng dẫn hành động đúng của ta, không cần đến mạc khải. Trái với quan điểm của phe duy tương đối, lý trí con người có khả năng biết được điều đúng, điều ngay. Ở đây, Đức Giáo Hoàng muốn nói tới luật tự nhiên.
Nhưng nếu lý trí con người có khả năng nhận thức được các quy phạm luân lý khách quan, dù không cần đến mạc khải, thì đâu là vai trò của tôn giáo trong xã hội, nhất là Kitô giáo? Đức Bênêđíctô XVI cho hay: tôn giáo không cung cấp các quy phạm luân lý ấy. Tôn giáo không đưa ra một bản thiết kế (blueprint) chi tiết cho việc cơ cấu hóa sinh hoạt chính trị và xã hội của một quốc gia. Đúng hơn, tôn giáo “giúp tinh lọc và soi sáng việc sử dụng lý trí vào việc khám phá ra các nguyên tắc luân lý khách quan ấy”.
Thành thử vai trò của tôn giáo là vai trò “điều chỉnh” (corrective), giúp hướng dẫn lý trí đi đúng đường tìm ra các quy phạm luân lý và các áp dụng cụ thể đứng đắn của chúng. Sự hướng dẫn này rất cần thiết vì tội lỗi thường ngăn cản lý trí trong cuộc tìm kiếm chân lý của nó. Ngài bảo: “không có sự điều chỉnh do tôn giáo đem lại… lý trí có thể trở thành mồi cho nhiều bóp méo lệch lạc, như bị các ý thức hệ thao túng, hay chỉ áp dụng một phần mà không xem sét toàn bộ phẩm giá nhân vị con người”.
Theo Đức Giáo Hoàng, chức năng điều chỉnh này của đức tin và mạc khải không luôn luôn được hoan nghênh trong nhiều xã hội dân chủ hiện nay. Điều này một phần không phải lỗi của xã hội. Chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, tức các hình thức tôn giáo bất cần lý trí, chịu trách nhiệm phần lớn.
Suy tư của Đức Bênêđíctô XVI hết sức gắn bó ở đây. Vì theo ngài, lý trí cần đức tin, nhưng đức tin cũng cần lý trí. Đó là một diễn trình hai chiều. Bởi thế, ngài tha thiết kêu gọi những người có trách nhiệm chính trị tại Vương Quốc Thống Nhất hãy làm mọi cách để bảo đảm “một cuộc đối thoại sâu sắc giữa thế giới thuận lý thế tục và thế giới niềm tin tôn giáo vì thiện ích của nền văn minh chúng ta”. Cuộc đối thoại ấy không thể nào chấp nhận được hiện tượng đẩy tôn giáo ra bên lề xã hội, một hiện tượng đang xẩy ra tại nhiều quốc gia, trong đó có Anh và Tô Cách Lan. Nó cũng không thể chấp nhận được việc bác bỏ quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo của các tín hữu. Rõ ràng ngài muốn ám chỉ các đạo luật gần đây tại quốc hội Anh nhằm công nhận quyền nhận con nuôi của các cặp đồng tính khiến nhiều cơ quan nhận con nuôi của Công Giáo bắt buộc phải một là hành động trái với lương tâm hai là tự ý đóng cửa, tự do tôn giáo của họ rõ ràng bị vi phạm.
Nhiều người khác còn chủ trương bắt tiếng nói của tôn giáo phải câm lặng hay ít nhất bị giới hạn trong phạm vi riêng tư. Chính vì không muốn bị “riêng tư hóa” như thế, nên nữ hoàng và chính phủ Vương Quốc Thống Nhất đã mời Đức Giáo Hoàng chính thức qua thăm đất nước họ. Cuộc viếng thăm có tính quốc khách vì thế có ý nghĩa hết sức lớn lao. Đức Giáo Hoàng muốn mọi người thấy rằng các xã hội hiện đại, kể cả các nền dân chủ hiện đại, không thể không cần đến “tôn giáo nơi công cộng”.
Nói lấy được
Thực ra khi lên tiếng như thế, những người chống đối trên đã quên khuấy nhiều nguyên tắc căn bản của dân chủ. Mà nguyên tắc hàng đầu chính là nguyên tắc đại diện. Họ đã bầu người đại diện và ủy cho người đại diện này quyền thay mặt mình cai trị đất nước. Người đại diện ấy đã nhân danh họ mà hành động, mong đem lại công ích cho mọi người, về mọi phương diện. Về chuyến viếng thăm Anh của Đức Bênêđíctô XVI, người đại diện đã thay mặt họ mời Đức Giáo Hoàng qua thăm. Việc mời ấy đúng hay sai, họ có quyền phê phán, chỉ trích. Nhưng người để họ phê phán chỉ trích chỉ có thể là chính phủ Anh, chứ không thể là Đức Giáo Hoàng. Tuy nhiên, cung cách phản đối của họ cho thấy họ nhằm vào Đức Giáo Hoàng chứ không nhằm vào chính phủ của họ.
Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc đa số, một nguyên tắc mà trong quá khứ họ từng dùng để dựng lên nhiều rào cản chống lại thiểu số Công Giáo và ngày nay vẫn được họ dùng để cả vú lấp miệng em về nhiều chính sách nhằm làm băng hoại xã hội và nhân phẩm. Họ nói đa số dân Anh không muốn chào đón quốc khách Bênêđíctô XVI. Nhưng trước khi Đức Giáo Hoàng tới đây, Lord Patten, vị đại diện chính phủ Anh trong ban tổ chức cuộc viếng thăm, xác nhận rằng những người chống đối chỉ là thiểu số, một thiểu số bất khoan dung đối với tôn giáo, nhất là Công Giáo. Tạp chí The Tablet đã nhờ cơ quan chuyên môn Ipsos làm một cuộc thăm dò. Kết quả: 25% người dân Anh ủng hộ chuyến viếng thăm, trong khi 11% chống đối, còn 65% không chống đối mà cũng không ủng hộ. Như thế, thì đa số nằm ở chỗ nào?
Thực tế, từ ngày Đức Giáo Hoàng thực sự đặt chân lên đất nước Anh, cán cân còn nghiêng rõ hơn nữa về phía người ủng hộ ngài so với những người chống đối. Tại Tô Cách Lan, số người đứng hai bên đường phố Edinburgh hoan hô ngài lên đến 125,000, trong khi số người chống đối chỉ là 150, kể cả nhóm của Mục Sư Paisley, người chống đối Đức Giáo Hoàng vì một lý do khác hẳn. Hãng tin Zenit nhận xét: các đe dọa phản đối tại Tô Cách Lan đã trở thành số không. Tại Luân Đôn, tình hình có khá hơn cho những người chống đối: có tường trình cho hay con số họ lên đến 10,000, nhưng cũng không thiếu tường trình cho hay con số ấy chỉ là 5,000. Trong khi ấy, số người ủng hộ ngài trên đường phố lên đến 200,000, tuy con số ấy chỉ còn lại 80,000 tại buổi canh thức ở Hyde Park. Ấy là chưa kể những người lắng nghe ngài, cùng cầu nguyện với ngài tại nhà. Người ta ước lượng con số ấy có thể lên tới hàng triệu. Hãng tin Zenit ngày 20 tháng 9 cho hay: cơ sở xuất bản Magnificat đã phân phối khắp nước Anh và Tô Cách Lan hơn một triệu cuốn nghi lễ dùng cho chuyến viếng thăm của Đức Giáo Hoàng. Cuốn sách này bao gồm tất cả các bài đọc, lời cầu nguyện, và nhiều bài suy niệm dùng trong suốt chuyến viếng thăm, nhờ thế, những người ở nhà vẫn có thể hiệp thông để cùng cầu nguyện với Đức Giáo Hoàng. Đức Hồng Y O’Brien, Đức Tổng Giám Mục Nichols, Lord Patten và Tổng Giám Mục Anh Giáo Williams cùng đề tựa cho cuốn sách.
Chính danh
Đối với Đức Giáo Hoàng, dĩ nhiên đây là chuyến viếng thăm chính thức của ngài tại Anh Quốc và Tô Cách Lan trong tư cách quốc khách. Ngài khẳng định điều đó trên chuyến máy bay tới Tô Cách Lan. Nguyên văn câu trả lời báo chí của ngài về vấn đề này: “Tôi rất biết ơn Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị, người đã muốn dành cho chuyến viếng thăm này tư cách viếng thăm nhà nước, để nói lên đặc tính chính thức của chuyến viếng thăm lẫn trách nhiệm chung về chính trị và tôn giáo đối với tương lai lục địa và tương lai của cả nhân loại. Nó cho thấy trách nhiệm lớn lao chung phải làm sao để các giá trị vốn tạo ra công lý và nền chính trị và các giá trị phát sinh từ tôn giáo được hợp nhất với nhau trong thời đại ta”.
Tuy nhiên, như để nhấn mạnh đến điểm tương đồng và cũng dị biệt trên thực tế giữa ngôi vị giáo hoàng và ngôi vị nữ hoàng Anh, hai ngôi vị kể là độc đáo trên thế giới hiện nay, Đức Giáo Hoàng đề cập tới điểm đặc thù của chuyến viếng thăm nhà nước này. Thực vậy, trên lý thuyết và danh dự, nữ hoàng Anh vừa đứng đầu Vương Quốc Thống Nhất vừa đứng đầu Giáo Hội Anh Giáo thế nào, thì Đức Giáo Hoàng cũng vừa đứng đầu Thị Quốc Vatican vừa đứng đầu Giáo Hội Công Giáo như thế. Những người duy thế tục của Anh, khi lên tiếng chỉ trích tư cách quốc khách của Đức Giáo Hoàng, hình như cũng muốn chửi xéo tư cách thủ lãnh Giáo Hội Anh Giáo của Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị. Trên thực tế, trong khi quyền bính và trách nhiệm tôn giáo của Nữ Hoàng gần như đã trở thành số không, thì quyền bính và trách nhiệm tôn giáo của Đức Giáo Hoàng luôn là chủ điểm và mỗi ngày càng trở thành chủ điểm nhiều hơn. Chính vì vậy, ngài nói thêm: “Lẽ dĩ nhiên, sự kiện đây là một chuyến viếng thăm nhà nước về phương diện pháp lý vẫn không làm cho chuyến viếng thăm của tôi thành biến cố chính trị, bởi vì Đức Giáo Hoàng có là đầu của một nhà nước, thì điều này chỉ là một phương thế để bảo đảm cho sự độc lập của lời ngài công bố và cho tính công cộng của công việc mục vụ của ngài. Theo nghĩa đó, một cuộc viếng thăm nhà nước, xét trong bản thể và yếu tính, vẫn là một cuộc viếng thăm mục vụ, tức một cuộc viếng thăm trong trách nhiệm đức tin, một trách nhiệm vốn giải thích cho sự hiện hữu của ngôi vị Giáo Hoàng”.
Nói thế rồi, Đức Giáo Hoàng cho rằng việc xếp cuộc viếng thăm mục vụ này vào loại quốc khách giúp người ta lưu ý đặc biệt tới những điểm trùng phùng giữa các lợi ích chính trị và lợi ích tôn giáo. Xét về bản thể, chính trị mưu cầu việc bảo đảm công lý và với công lý là tự do. Nhưng công lý vốn là một giá trị luân lý và tôn giáo. Nên việc công bố đức tin rõ ràng có liên hệ tới chính trị trong lãnh vực công lý. Từ đó, phát sinh ra các quan tâm chung. Ngài cho rằng: “Đại Anh vốn có nhiều kinh nghiệm và nhiều hoạt động trong cuộc đấu tranh chống các tệ nạn thời nay như khốn cùng, nghèo khổ, bệnh tật, ma túy nhưng tất cả những cuộc đấu tranh chống khốn cùng, nghèo khổ, và các ách nô lệ của con người, cũng là các mục tiêu của đức tin bởi vì chúng hết thẩy đều là mục tiêu của việc nhân bản hóa con người ngõ hầu họ được phục hồi trở lại với hình ảnh Thiên Chúa từ cảnh đổ vỡ tan hoang”.
Điểm chung thứ hai là dấn thân cho hòa bình thế giới và khả năng được sống trong hòa bình, được giáo dục trong hòa bình. Là tạo ra các nhân đức giúp con người có khả năng hòa bình. Và sau cùng yếu tố chủ chốt của hòa bình là đối thoại liên tôn, là khoan dung, là việc con người cởi mở chào đón người khác. Mục tiêu sâu sắc đối với cả Đại Anh trong tư cách một xã hội lẫn đức tin Công Giáo là mục tiêu sau đây: mở cửa tâm hồn, mở cửa cho đối thoại, và do đó, mở cửa cho chân lý, cho cuộc hành trình chung của nhân loại và cho việc tìm lại các giá trị vốn làm nền tảng cho chủ nghĩa nhân bản của chúng ta.
Cái tính quốc khách dành cho chuyến viếng thăm chỉ có mục đích ấy. Thủ tướng David Cameron, trong một bài báo viết cho tờ The Tablet, cũng nhấn mạnh đến những điểm tương đồng giữa Đại Anh và Tòa Thánh Vatican. Theo ông, “Giáo Hội Công Giáo công bố một sứ điệp hòa bình và công lý cho thế giới và chúng ta đang làm việc mật thiết với sứ điệp ấy để đẩy mạnh hơn nữa các chính nghĩa này”. Ông cũng cho rằng “Giáo Hội Công Giáo và các cơ quan của nó đứng hàng đầu trong cuộc đấu tranh chống nghèo đói trên khắp thế giới và chúng ta, chúng ta làm việc với họ, với các cơ quan như Cafod, Sciaf, Trocaire và Caritas, ở Châu Phi, ở Châu Á và Châu Mỹ La Tinh. Tại vùng Hạ Sahara của Châu Phi, các cơ quan Công Giáo tại các giáo hội địa phương đang cung cấp một phần tư dịch vụ giáo dục và chăm lo sức khỏe, nhất là cho các nạn nhân bệnh AIDS”. Ngoài ra ông còn liệt kê sự đóng góp của Tòa Thánh vào Chương Trình Phát Triển Thiên Niên Kỷ của Liên Hiệp Quốc cũng như chiến dịch chống thay đổi khí hậu, hai chương trình được chính phủ của ông tiếp tục hỗ trợ hết mình.
Cuộc tranh luận công cộng
Đặt chân lên Tô Cách Lan và Anh, Đức Bênêđíctô XVI đã thể hiện đúng quan điểm của ngài về tư cách quốc khách của ngôi vị giáo hoàng. Trong buổi triều yết tại Quảng Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô ở Rôma, sau khi từ Birmingham trở về, ngài cho rằng trong bất cứ cuộc tông du nào, ngài cũng nhằm hỗ trợ cộng đồng Công Giáo địa phương, khuyến khích họ bênh vực các sự thật luân lý trường cửu; những sự thật vốn được Phúc Âm soi sáng và củng cố này chính là nền tảng của một xã hội nhân bản, công bình và tự do. Nhưng song song với mục tiêu ấy, ngài cũng đã nói với người dân của Vương Quốc Thống Nhất “về thực tại đích thật của con người, về các nhu cầu sâu sắc nhất của họ, về cùng đích tối hậu của họ”. Đối với một xã hội bị duy tục hóa cao độ như Nước Anh, tư cách quốc khách mới có thể giúp ngài lên tiếng một cách đầy đủ thế giá về những vấn đề như thế, một tiếng nói trên nóc mái nhà, đường đường chính chính, một thế giá mà Tổng Giám Mục Anh Giáo Rowan Williams không thể có được, như nhận định của Stephen Glover trên tờ Daily Mail mấy hôm trước đây.
Ngài không hề đòi hỏi tư cách quốc khách vì các lý do chính trị. Trên đường tới Tô Cách Lan, ngài khẳng định với báo chí: “Giáo Hội không làm việc cho chính mình, không làm việc để gia tăng con số, gia tăng quyền lực. Giáo Hội phục vụ Người Khác, không phục vụ chính mình. Giáo Hội không hiện hữu để trở thành một cơ cấu mạnh, nhưng đúng hơn, Giáo Hội phục vụ nhằm giúp người ta nghe lời công bố về Chúa Giêsu Kitô, về các chân lý vĩ đại, về những sức mạnh lớn lao của tình yêu, về hoà giải… “. Tổng Giám Mục Rowan Williams của Anh Giáo cũng nhất trí với ngài khi ông tuyên bố tại Đan Viện Westminster rằng: tôn giáo không đòi hỏi quyền lực chính trị hay vai trò thống trị trong đời sống công, mà chỉ đòi hỏi cơ hội được làm chứng, được biện luận, được đôi khi phản kháng, đôi khi khẳng nhận, nghĩa là được góp phần vào cuộc tranh luận công cộng của xã hội chúng ta…
Cuộc tranh luận ấy đã được Đức Bênêđíctô XVI tham dự trong tư cách ngang hàng với các nhà lãnh đạo Anh và Tô Cách Lan, thuộc đủ mọi phương diện: chính trị, văn hóa, tôn giáo, kinh tế, nghệ thuật… Và qua họ là với toàn thế giới thế tục. Ngài đủ tư cách để cho họ thấy: đẩy tôn giáo ra bên lề sinh hoạt công cộng là điều vừa trái với truyền thống cha ông họ, một truyền thống vốn nhìn nhận nơi vị quân vương một vai trò lãnh đạo tôn giáo, vừa phá hoại bản chất con người, vốn được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, đầy đủ tự do và phẩm giá.
Tại Đại Sảnh Westminster, nơi chủ tịch nghị viện Thomas More bị xử tử năm 1535 vì không chịu nhìn nhận quyền bính vua trên quyền bính Giáo Hội, và là nơi ngài được người kế nhiệm ông là John Bercow chào mừng, Đức Bênêđíctô không ngần ngại nhắc mọi người nhớ nét chính yếu trong phiên tòa xử Thomas More. Ngài bảo họ: “thế lưỡng nan của More trong thời buổi khó khăn ấy” chính là “vấn đề muôn thuở trong mối tương quan giữa điều thuộc về Xêda và điều thuộc về Thiên Chúa”. Ngài muốn họ “suy nghĩ… về chỗ đứng thích đáng của niềm tin tôn giáo trong diễn trình chính trị”.
Áp dụng vào trường hợp More, ngài nói với cử tọa trên rằng các vấn nạn căn bản trong vụ xử ông vẫn tiếp tục hiện diện trong xã hội ngày nay. Trong số các vấn nạn ấy, có vấn nạn quan trọng hàng đầu là “Phải dựa vào đâu để giải quyết các thế lưỡng nan luân lý?”
More và tất cả mọi người đàn ông cũng như đàn bà thời ông đều buộc phải hỏi và trả lời câu hỏi này: phải giải quyết vấn đề luân lý về ly dị và tái hôn trên căn bản nào? Phải chăng phải dựa vào ý kiến của người nắm quyền chính trị (Henry VIII) hay dựa trên các nguyên tắc luân lý trường cửu, các nguyên tắc vốn được Giáo Hội cổ vũ?
Tuy tình thế chính trị tại Anh trong 500 năm qua đã thay đổi nhiều, nhưng vấn đề sau vẫn y nguyên: đối với xã hội dân sự và chính trị, liệu có những nền tảng đạo đức nào mà ngay những nhà nắm quyền chính trị cũng không thể nào thay đổi được, kể cả thẩm quyền dân chủ? Theo Đức Bênêđíctô XVI, câu trả lời hiển nhiên là có. Vì “nếu các nguyên tắc luân lý bên dưới diễn trình chính trị chỉ được xác định một cách chắc chắn bằng sự đồng thuận có tính xã hội, thì rõ ràng diễn trình [dân chủ] ấy hết sức mỏng manh”. Ở đây, Đức Giáo Hoàng muốn nhắc tới các luật lệ phản sự sống được Nghị Viện Anh và nhiều nền dân chủ hiện đại thông qua trong mấy thập niên vừa rồi, nhân danh “sự đồng thuận có tính xã hội” (social consensus), nhưng rõ ràng đi ngược lại lợi ích đích thật của xã hội.
Ngài không trực tiếp nhắc tới phá thai, an tử hay dùng tế bào gốc phôi thai để nghiên cứu, nhưng ngài có đưa ra một điển hình về việc người ta “hy sinh” các nền tảng luân lý của xã hội. Đó là cuộc khủng hoảng tài chánh, sở dĩ xẩy ra vì người ta “hy sinh” các nền tảng luân lý lành mạnh để đổi lấy quyền lợi tư riêng và chủ nghĩa thực dụng, đem lại khó khăn cho bao nhiêu triệu người trên khắp thế giới. Ngài nhắc các nhà lập pháp Anh hiện nay rằng: các đồng nghiệp xưa của họ, khi bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ, đã không hẳn dựa vào ý kiến công cộng mà dựa vào các nguyên tắc đạo đức chắc chắn, bén rễ sâu trong luật tự nhiên”.
Nhưng “tìm ở đâu ra nền tảng đạo đức cho các quyết định chính trị?”. Đức Giáo Hoàng trả lời: lý trí con người có thể khám phá ra các qui phạm khách quan vốn hướng dẫn hành động đúng của ta, không cần đến mạc khải. Trái với quan điểm của phe duy tương đối, lý trí con người có khả năng biết được điều đúng, điều ngay. Ở đây, Đức Giáo Hoàng muốn nói tới luật tự nhiên.
Nhưng nếu lý trí con người có khả năng nhận thức được các quy phạm luân lý khách quan, dù không cần đến mạc khải, thì đâu là vai trò của tôn giáo trong xã hội, nhất là Kitô giáo? Đức Bênêđíctô XVI cho hay: tôn giáo không cung cấp các quy phạm luân lý ấy. Tôn giáo không đưa ra một bản thiết kế (blueprint) chi tiết cho việc cơ cấu hóa sinh hoạt chính trị và xã hội của một quốc gia. Đúng hơn, tôn giáo “giúp tinh lọc và soi sáng việc sử dụng lý trí vào việc khám phá ra các nguyên tắc luân lý khách quan ấy”.
Thành thử vai trò của tôn giáo là vai trò “điều chỉnh” (corrective), giúp hướng dẫn lý trí đi đúng đường tìm ra các quy phạm luân lý và các áp dụng cụ thể đứng đắn của chúng. Sự hướng dẫn này rất cần thiết vì tội lỗi thường ngăn cản lý trí trong cuộc tìm kiếm chân lý của nó. Ngài bảo: “không có sự điều chỉnh do tôn giáo đem lại… lý trí có thể trở thành mồi cho nhiều bóp méo lệch lạc, như bị các ý thức hệ thao túng, hay chỉ áp dụng một phần mà không xem sét toàn bộ phẩm giá nhân vị con người”.
Theo Đức Giáo Hoàng, chức năng điều chỉnh này của đức tin và mạc khải không luôn luôn được hoan nghênh trong nhiều xã hội dân chủ hiện nay. Điều này một phần không phải lỗi của xã hội. Chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, tức các hình thức tôn giáo bất cần lý trí, chịu trách nhiệm phần lớn.
Suy tư của Đức Bênêđíctô XVI hết sức gắn bó ở đây. Vì theo ngài, lý trí cần đức tin, nhưng đức tin cũng cần lý trí. Đó là một diễn trình hai chiều. Bởi thế, ngài tha thiết kêu gọi những người có trách nhiệm chính trị tại Vương Quốc Thống Nhất hãy làm mọi cách để bảo đảm “một cuộc đối thoại sâu sắc giữa thế giới thuận lý thế tục và thế giới niềm tin tôn giáo vì thiện ích của nền văn minh chúng ta”. Cuộc đối thoại ấy không thể nào chấp nhận được hiện tượng đẩy tôn giáo ra bên lề xã hội, một hiện tượng đang xẩy ra tại nhiều quốc gia, trong đó có Anh và Tô Cách Lan. Nó cũng không thể chấp nhận được việc bác bỏ quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo của các tín hữu. Rõ ràng ngài muốn ám chỉ các đạo luật gần đây tại quốc hội Anh nhằm công nhận quyền nhận con nuôi của các cặp đồng tính khiến nhiều cơ quan nhận con nuôi của Công Giáo bắt buộc phải một là hành động trái với lương tâm hai là tự ý đóng cửa, tự do tôn giáo của họ rõ ràng bị vi phạm.
Nhiều người khác còn chủ trương bắt tiếng nói của tôn giáo phải câm lặng hay ít nhất bị giới hạn trong phạm vi riêng tư. Chính vì không muốn bị “riêng tư hóa” như thế, nên nữ hoàng và chính phủ Vương Quốc Thống Nhất đã mời Đức Giáo Hoàng chính thức qua thăm đất nước họ. Cuộc viếng thăm có tính quốc khách vì thế có ý nghĩa hết sức lớn lao. Đức Giáo Hoàng muốn mọi người thấy rằng các xã hội hiện đại, kể cả các nền dân chủ hiện đại, không thể không cần đến “tôn giáo nơi công cộng”.