Những người ngoại giáo tí hon xinh đẹp
Bill Farrelly, người giữ một mục trên tờ Marist Messenger, thì chú trọng nhiều hơn tới Thế Hệ X, có thể nói như thế, nghĩa là Thế Hệ đi trước thế hệ Y, hay thế hệ cha mẹ của thế hệ này. Theo ông, muốn “nắm” được Thế Hệ Y thì phải nắm được Thế Hệ X. Đầu dây mối rợ của hiện tượng xa rời Giáo Hội nằm chính trong Thế Hệ X này.
Ngày 16 tháng 6 vừa qua, Farrelly cho đăng một bài tựa là “Những người ngoại giáo tí hon xinh đẹp” (Beautiful little pagans). Ông bắt đầu bằng một lời thống thiết “Vì Chúa Kitô, xin Giáo Hội hãy tỉnh dậy!”. Ông bảo: ông không có ý phạm thượng, mà chỉ đưa ra một lời khẩn khoản, đồng thời dóng lên tiếng nói thất vọng của mình khi khám phá ra lý do tại sao 7 trong số 8 đứa cháu của ông cứ tiếp tục làm người ngoại giáo tí hon xinh đẹp. Lý do ấy là: ông đã cố gắng truyền lại cho con cái ông niềm tin của ông, nhưng con cái ông đã từ khước không truyền lại cho con cái chúng cùng một niềm tin ấy, thậm chí từ khước luôn cả việc rửa tội cho chúng.
Farrelly cho hay: con cái ông là những con người đứng đắn, biết lo lắng, trung thực và biết yêu thương. Ông tôn trọng quyết định của chúng trong việc ngưng không tham dự Thánh Lễ nữa, vì chúng có quyền lựa chọn như thế. Nhưng điều ông không hiểu và dường như con cái ông không hiểu là chúng đã vô tình tước mất quyền lựa chọn ấy của con cái chúng, vì chúng đã không cho con cái chúng có dịp tiếp xúc với đức tin như chính chúng từng được cha mẹ chúng cho tiếp xúc.
Đó là mối thất vọng đầu. Mối thất vọng sâu xa hơn và thực chất hơn, theo Farrelly, phát xuất từ Giáo Hội. Bởi thế ông mới tha thiết khẩn khoản: “vì Chúa Kitô, xin Giáo Hội hãy tỉnh dậy!”. Ông cho rằng số đông các vị hồng y và giám mục phải chịu trách nhiệm về những điều đang xẩy ra. Các ngài là nguyên nhân chính khiến cho quá nhiều người trưởng thành ngưng không tham dự Thánh Lễ nữa và do đó không cho con cái mình theo học các trường Công Giáo hay Kitô Giáo nữa. Các ngài chịu phần trách nhiệm lớn hơn cả khiến những trẻ em này không được rửa tội và chỉ nhận được một nền giáo dục thế tục.
Farrelly bảo: ông biết các nhà lãnh đạo Giáo Hội đang phải đương đầu với rất nhiều trở ngại, các ngài không tạo ra chủ nghĩa duy vật, một chủ nghĩa đang làm con người thời nay, cả người tin lẫn không tin, quay mặt khỏi Thiên Chúa và luân lý. Nhưng xem ra nhiều vị không muốn hay không có khả năng xử lý các thách đố này. Ông không chối cãi việc vẫn có những vị giám mục và hồng y can đảm, sẵn sàng đương đầu với các thách đố này và biết rằng Giáo Hội phải trở nên thích ứng hơn với cuộc sống hằng ngày của người ta. Nhiều linh mục, tu sĩ và nữ tu cũng đang dấn thân trên nẻo đường này. Ông ngả mũ kính cẩn chào các nhà lãnh đạo ấy.
Ông chỉ mong giáo dân từ Thánh Lễ Chúa Nhật trở về, cảm thấy mình được tươi mát trở lại, được thúc đẩy trở lại nhờ những bài giảng có linh hứng, có thách thức. Theo ông, nhiều bài giảng chỉ lặp đi lặp lại, nghe buồn nản và chẳng dính dáng gì. Người ta, nhất là người trẻ, rất mong được thông tri. Các giáo hội Kitô Giáo khác đã chứng tỏ rằng muốn người ta đến với mình, mình phải làm cho việc thông tri thiêng liêng dính dáng với cuộc sống của thế kỷ 21. Và điều quan trọng là: nếu người lớn đến, thì trẻ em sẽ đến. Và rồi một ngày kia, khi chúng lớn khôn, chúng sẽ tự quyết định có nên tiếp tục đến hay không.
Bởi thế, Farrelly cho hay: ông tiếp tục cầu nguyện để những đứa cháu của ông nhận được cơ may mà cha mẹ ông từng đem lại cho ông, mà ông và vợ ông từng đem lại cho con cái mình. Ông cũng cầu nguyện cho các vị giám mục và hồng y để các ngài làm dễ diễn trình tạo cơ may ấy.
Phản ứng
John Kelly ở Adelaide nghĩ rằng nhận định của Farrelly về trách nhiệm của hàng giáo phẩm có hơi quá đáng. Theo ông, cha mẹ nào cũng đều có trách nhiệm phải chuyển giao đức tin cho con cái. Ông tin rằng các cố gắng của ta cộng với lời cầu nguyện sẽ không uổng công. Lời của Thánh Ambrôsiô với Thánh Nữ Monica về cậu thanh niên Augustinô là một khích lệ và bảo đảm rất lớn.
Một độc giả khác, Gary Edmonds, thì cho rằng lý do khiến các anh chị em ông không tham dự Thánh Lễ là vì Chân Lý đã không được truyền lại cho họ một cách hữu hiệu. Nói rằng Chúa Giêsu yêu bạn quả có đúng, nhưng đàng sau câu nói ấy còn có một câu truyện, một ý niệm, một cuộc sống cần được gia đình rao giảng. Nếu người ta không nắm được Chân Lý ấy thì không hẳn là do bài giảng của một linh mục nào đó, mà vì bạn vẫn còn nói một thứ ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của con cái. Phải rao giảng ngay ở chỗ họ đang hiện hữu. Hãy sử dụng loại suy (analogies), liên hệ đức tin với một điều gì đó họ ưa thích.
Nhưng phản ứng chi tiết nhất là của David Timbs, ở Albion, Victoria. Ngày 23 tháng 8 vừa qua, “blog” của hãng tin Cathnews cho đăng tải đóng góp của ông, tựu trung, cũng để nói lên nỗi lo ngại về hiện tượng quá chú trọng tới giới trẻ, tới Thế Hệ Y, mà phần nào quên lãng các thế hệ khác.
Bản phúc trình về nền linh đạo của Thế Hệ Y
David Timbs đặc biệt lưu ý tới bản phúc trình năm 2004 do Đại Học Công Giáo Úc thực hiện về linh đạo của Thế Hệ Y, dưới sự bảo trợ của Hội Đồng Giám Mục Úc Châu. Thế hệ Y được mô tả là mắc hội chứng quá tự yêu mình (narcissistic), thiếu động lực, thiếu cam kết và kỷ luật. Người ta có thể cho rằng họ được bảo vệ quá đáng, được khích lệ và nuông chiều thái quá. Đây là một thế hệ bị quyến rũ bởi câu thần chú “bạn có thể trở thành bất cứ điều gì bạn muốn” và ít khi nghe cha mẹ nói chữ “không” cũng như ít khi chịu học biết các biên giới xã hội. Mỹ từ “quyền lợi” thường được nghe thấy, chứ hạn từ “trách nhiệm” thì ít khi được nghe.
Riêng về phương diện tôn giáo, Bản Phúc Trình của Đại Học Công Giáo Úc cho ta một số thống kê khá lý thú về Thế Hệ Y: 31% nhận mình là duy nhân (humanist), ý thức rất ít hay không ý thức gì về “Thiên Chúa” hay “một quyền lực cao hơn” theo nghĩa tín điều; 17% cho mình không thuộc một hệ thống tuyên tín nào; 32% không có ý kiến; chỉ có 19% tự nhận mình thực hành niềm tin. Điều cũng lý thú là những người trả lời cuộc thăm dò cho biết họ rất ít quan tâm tới các giáo phái hay những nhóm tôn giáo ngoại biên (religious side-shows). Xem ra những hứa hẹn “yêu thương” và phúc âm thịnh vượng của một Kitô Giáo nhạc rock không lôi cuốn họ lâu dài.
Theo David Timbs, những sự kiện trên đem đến cho Giáo Hội một bằng chứng rõ ràng rằng Giáo Hội cần phải xem sét cả việc mình tự trình bày với giới trẻ ra sao lẫn việc mình đã lượng giá chương trình nối vòng tay lớn về phúc âm của mình như thế nào. Ông bảo sự lo lắng và bất mãn của Bill Farrelly một phần có lẽ đã phát sinh từ việc lãnh đạo nghèo nàn trong Giáo Hội, không biết nhìn trước. Có lẽ các ngài đang xây dựng những đền đài và viện bảo tàng lộng lẫy cho giới trẻ mà quên không chăm lo mục vụ cho thửa vườn (Gioan XXIII). David Timbs cũng cho rằng Mark Johnson có lý khi cho rằng Giáo Hội đã qui hướng các năng lực rao giảng Tin Mừng của mình một cách nghèo nàn vào giới trẻ. Cha mẹ là người cần được giúp đỡ để hiểu các hậu quả của việc dẫn đưa con cái mình vào thứ bí tích “xã hội học”, tức cái thứ nghi thức vào đời theo kiểu Clayton: cơ hội để chụp hình (photo op) với những món quà hậu hĩnh và tiệc tùng sau đó. Phó sản của cái thứ “bí tích” này là so sánh, là nhận vơ, là loại bỏ và cả bắt nạt nhau về phương diện xã hội và kinh tế. Hỏi thực tại lâu dài nào còn tồn tại nơi đứa trẻ sau khi những cái đó qua đi? Phép Rửa, Phép Thánh Thể và Phép Thêm Sức dẫn đưa nó vào thứ cộng đồng Kitô Giáo nào? Cam kết lâu dài và diễn tiến nằm ở đâu? Những dịp như Giáng Sinh và Phục Sinh cũng thế. Chúng đã bị rút gọn để trở thành những chuyện “con nít”. Quả cha mẹ của Thế Hệ Y đã âm thầm trao con cái mình cho những ông quản trị viên của thị trường ngoài kia.
David Timbs trích dẫn Michael Carr-Gregg, một tâm lý gia trẻ, người đã nhận diện ra bốn thế giới có tương quan với nhau mà tuổi trẻ gọi là nhà: thế giới bên trong, thế giới gia đình, thế giới bạn bè và thế giới trường học. Mới đây, ông ta còn thêm thế giới thứ năm, tức thế giới liên mạng. Đó là các lãnh vực xã hội hóa của tuổi trẻ nhưng đáng sợ thay, 90% sự tương hành qua lại giữa các thế giới này đã được thực hiện bằng điện tử! Và điều dễ hiểu là các thế giới đó đem đến thật nhiều sợ hãi, lo âu và hỗn độn cho nhiều người trẻ đang chới với đương đầu với những sức mạnh quá lớn đến không thể xử lý được. Dễ bị khai thác và thao túng là đặc điểm nổi bật của tuổi trẻ khắp nơi, đến nỗi nếu để một mình, họ khó có thể lèo lái cách an toàn trong các thế giới ấy. Các người trẻ Công Giáo của chúng ta cũng thế thôi.
Tuy nhiên, theo David Timbs, một trong những khám phá ấm lòng của Phúc Trình trên là dù Thế Hệ Y dành rất ít thì giờ hay không dành chút thì giờ nào cho Giáo Hội định chế, nhưng họ hết sức mến phục bộ mặt không vô nghĩa, bộ mặt rất bình dân nhưng lại nhiều thách đố của Chúa Giêsu. Tín điều đã mất hẳn đối với họ, nhưng Chúa Giêsu chân thực của Phúc Âm thì không, Người vẫn liên hệ với kinh nghiệm nhân bản. Người vẫn có thể nói với họ và nói cho họ bằng một giọng thuyết phục và dễ hiểu. Điều ấy hình như chúng ta thiếu đã lâu.
Tuy nhiên, theo Alex Reichel, ở Oyster Bay, Sydney, sự chú ý tới Chúa Giêsu của Thế Hệ Y trên đây chỉ là chuyện mây gió (ephemeral) và chưa được dị biệt hóa khỏi cảm tính. Muốn làm cho Chúa Giêsu hiện thực thật sự thì cần phải yêu Thánh Kinh. Thánh Thần của Chúa Giêsu vượt qua mọi biên giới xã hội. Hãy đọc Tông Đồ Công Vụ sẽ thấy: Chúa Giêsu chân thực kia đã thành lập một Giáo Hội.
Đối với Bản Phúc Trình của Đại Học Công Giáo Úc, Marjorie ở Brisbane nhận xét rằng đó không hẳn là một cuộc thăm dò giới trẻ Công Giáo mà thôi, bởi lẽ đa số các sinh viên thuộc Đại Học này không nhất thiết là người Công Giáo. Tuy nhiên, bản thăm dò trên có những câu hỏi khá chi tiết về đức tin Công Giáo như về Sự Hiện Diện Thực Sự của Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể. Chỉ có điều bản thăm dò đã không giải thích các câu trả lời theo hậu cảnh đức tin của sinh viên.
Bởi thế, theo Garry ở Ipswich, Queensland, đã đến lúc phải có một cuộc nghiên cứu dựa trên việc tham dự Thánh Lễ của giới trẻ, nhất là của các học sinh tiểu và trung học. Hiện nay, nhiều dữ kiện thống kê đang cho thấy việc tham dự Thánh Lễ tại các nhà thờ Công Giáo của hai lớp người này khá nghèo nàn. Trong trường hợp các học sinh tiểu học, những em không thể tham dự Thánh Lễ nếu không được cha mẹ đưa đi, điều hiển nhiên là phải tập chú các cố gắng mục vụ vào cha mẹ. Cha mẹ có tham dự Thánh Lễ, con cái họ mới có dịp tham dự. Riêng đối với các học sinh trung học, vấn đề có phức tạp hơn. Nhiều cuộc nghiên cứu còn cho thấy, sau khi rời trung học, đa số các em còn ngưng hẳn việc tham dự Thánh Lễ. Người ta, vì thế, nghiêng hẳn về lối giải thích: Không có gì trong Thánh Lễ lôi cuốn và vận dụng được các em.
Fran, ở Brisbane, tự nhận mình là người sinh trong thập niên 1960. Thế hệ của bà (ông?) được người ta liệt vào thế hệ thứ 2 của những người Công Giáo không được học (uneducated). Thành thử, Thế Hệ Y, một Thế Hệ không được giáo dục, không được học về đức tin thì làm sao biết và hiểu được đức tin ấy? Fran là người may mắn nhờ được “thách thức” bởi bà mẹ và sở thích đọc và thích học hỏi các sách vở tiền Công Đồng Vatican II. Phúc đức khác của Fran là gặp được những “người đi lễ” hằng ngày hiểu biết đức tin, sẵn sàng đồng hành với bà (ông?). Fran thú nhận: ít gặp được vị nào trong hàng ngũ ơn gọi tu trì chịu dạy theo Thánh Kinh và Huấn Quyền.
Chủ điểm Bản Phúc Trình “Nền Linh Đạo Thế Hệ Y”
Trên VietCatholicNews, từ 16 tháng 6 năm 2008, chúng tôi có cho đăng tải một loạt bài về bản Phúc Trình “Nền Linh Đạo Thế Hệ Y” của Đại Học Công Giáo Úc, nhân dịp sắp sửa khai mạc Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Sydney. Đúng như Marjorie ở Brisbane nhận xét, bản phúc trình này nhằm khám phá nền linh đạo của tuổi trẻ Úc nói chung, chứ không hẳn tuổi trẻ Công Giáo Úc nói riêng. Tuy nhiên, nó cung cấp thật nhiều dữ kiện hữu ích cho mục vụ giới trẻ Công Giáo, và nhất định là một gợi ý, hay đúng hơn, một kích thích tố giúp Hội Đồng Giám Mục Úc nói chung và Đức Hồng Y George Pell của Sydney nói riêng mạnh dạn đứng ra đăng cai tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2008, một ngày giới trẻ tuyệt vời dưới bầu trời lồng lộng của Thánh Giá Phương Nam. Chỉ cần nhớ lại đêm Chầu Thánh Thể với 400,000 con người, trong đó, có cả người Kế Vị Phêrô, im lặng rập mình thờ lạy Ngôi Hai Nhập Thể, đại diện cho cả và thiên hạ cùng vũ trụ tinh hà, cũng đủ lấy lại sở hụi tổ chức rồi.
Nói thế có vẻ “tâng bốc” giá trị của Bản Phúc Trình quá đáng. Thực ra, nó chỉ nhằm thăm dò nền linh đạo của lớp người được họ tổng kết là theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy cá nhân, một chủ nghĩa hết sức thách thức quan niệm cổ truyền cho rằng xã hội chỉ vững ổn khi các thành viên của nó có chung các giá trị và niềm tin giống nhau. Không biết hình ảnh 400,000 con người trong đêm vọng Ngày Giới Trẻ Thế Giới 2008 tại Sydney có đánh đổ được phần nào cái khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa này hay không. Nhưng rõ ràng đó là ý nguyện của những người đứng ra tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2008, và là ý nguyện của người sáng lập ra ngày này, Đức Cố Giáo Hoàng và là Người Tôi Tớ của Chúa, Gioan Phaolô II.
Bản Phúc Trình cũng nhấn mạnh điều này, điều mà Farrelly nhấn mạnh rất đúng: Thế Hệ Y không được lên khuôn do các biến cố mới đây, mà chính nền văn hóa Úc và cha mẹ họ đã lên khuôn cho họ. Chính Thế Hệ Được Mùa Con Nít, tức cha mẹ họ, đã sống qua thời kỳ có những biến chuyển lớn về xã hội và văn hóa trong hai thập niên 1960 và 1970. Thành thử, cố gắng tái phúc âm hóa cần được tập chú vào cha mẹ của Thế Hệ Y. Trong các nhà thờ Công Giáo Úc hiện nay, sự vắng bóng các cha mẹ này hết sức rõ ràng. Và phải chăng hiện tượng ấy cũng đang xẩy ra cho các cộng đồng Công Giáo Việt Nam, nhất là các cộng đồng hải ngoại?
Một điểm nữa được Bản Phúc Trình nhấn mạnh, ngược với Garry ở Queensland, là họ không dựa vào con số tham dự Thánh Lễ để nghiên cứu thái độ giới trẻ đối với tôn giáo mà dựa vào linh đạo hay cuộc sống tâm linh. Đã đành, tại Israel, linh đạo liên hệ đến ý niệm thần linh, đến ý niệm Thiên Chúa. Từ thế kỷ 17 trở đi, nó chỉ phong cách bản thân của từng người đối với việc tôn giáo. Nhưng những lúc gần đây, linh đạo có một định nghĩa rộng rãi hơn nhiều, trong đó, tôn giáo định chế chỉ đóng một phần rất nhỏ. Ai cũng có thể tự định nghĩa được linh đạo của riêng mình. Khởi đầu cuộc nghiên cứu, nhiều người từ khước hoàn toàn ý niệm ‘tâm linh’ tuy họ vẫn có một lối sống, một thế giới quan, một hệ thống giá trị và đạo đức riêng. Thành ra, để không độc đoán loại trừ một ai, các tác giả đã đưa ra một định nghĩa hết sức rộng rãi về linh đạo: để chỉ bất cứ thế giới quan nào bạn có và bất cứ hệ thống giá trị nào đi đôi với thế giới quan kia, dù trong cách nói năng của bạn, bạn từ khước không dùng các hạn từ như linh đạo, tâm linh.
Từ đó, các tác giả đưa ra ba mẫu linh đạo: Truyền Thống, Chiết Trung (eclectic) và Duy Nhân (humanist). Linh Đạo Truyền Thống để chỉ những ai nhận mình là Kitô hữu, tham dự các giáo hội Kitô giáo, cũng như một số tín hữu thuộc các tôn giáo lớn có tính hoàn cầu, như Hồi Giáo, Phật Giáo và Ấn Giáo, vốn là các truyền thống tôn giáo cực kỳ lâu đời trên thế giới. Tuy nhiên, họ chỉ đại diện rất ít trong cuộc nghiên cứu này. Tóm lại, tuy Truyền Thống ở đây chỉ các Kitô Hữu và Các Truyền Thống Khác, nhưng cốt chính vẫn nhằm vào các Kitô hữu, bởi lý do đơn giản họ là nhóm đa số gắn bó với con đường truyền thống.
Chiết Trung là những người tin theo hai hay nhiều hơn các niềm tin Tân Đại (New Age), bí truyền hay Đông Phương. Thí dụ, tin tái sinh, tin đồng bóng (psychics), tin bói toán hay thuật chiêm tinh. Thêm vào đó, họ còn có thể thực hành tới bốn thể loại tôn giáo và tâm linh Tân Đại, bí truyền hay Đông Phương sau đây: yoga, tai-chi, bói bài hay bói toán. Phải nói ngay, một số người tự nhận là Chiết Trung vẫn duy trì một số niềm tin của Kitô giáo, như tin có sự sống đời sau, tin thiên thần, ma qủy v.v… Tuy chưa biết liệu các niềm tin này có phù hợp với quan điểm truyền thống của Kitô giáo hay không. Căn cứ vào tính chiết trung của họ, nghĩa là cái quan điểm sẵn sàng ‘thu nhặt’ đủ thứ, thì các niềm tin kia khó mà đi đúng hướng của Kitô giáo chính thống.
Nhóm Duy Nhân là nhóm khá đông của Thế Hệ Y. Nên các tác giả muốn tìm hiểu cái nhìn của họ về cuộc đời. Gọi họ là Duy Nhân, vì xem ra nhóm này không muốn đi theo một con đường tâm linh nào, kể cả con đường Truyền Thống lẫn các nẻo đường Chiết Trung của Tân Đại, của bí truyền và của Đông Phương. Xem ra họ nhất định quay gót đối với các nền linh đạo ấy. Mà thật ra, họ không duy nhân theo nghĩa cực đoan của hội duy nhân hay hội duy lý. Họ không nhất thiết giận dữ chống đối tôn giáo cổ truyền, mà có phần tỏ ra khoan dung đối với các tôn giáo ấy. Nên theo định nghĩa, họ không bài tôn giáo, họ chỉ không chọn con đường ấy cho bản thân họ.
Nhiều người duy nhân cho hay họ tin Thiên Chúa. Thành thử, các tác giả Phúc Trình chia các người Duy Nhân theo nhiều cấp bậc khác nhau. Có những người duy nhân kiên định, nghĩa là những người cho hay họ không tin Thiên Chúa và chưa bao giờ tin cả. Tuy nhiên vẫn có một biên giới chung giữa người duy nhân và người truyền thống, trong đó, có người trước đây từng có liên hệ với Kitô giáo hay một tôn giáo truyền thống nào đó, nhưng nay đã rời khỏi các tôn giáo này, nhưng vẫn giữ lại một số niềm tin nào đó. Những người này không những có thể nói họ tin Thiên Chúa, mà cho dù họ nói họ không tin đi chăng nữa, thì họ vẫn tin vào một lực sống hay một hữu thể cao siêu nào đó.
Nói cho ngay, căn cứ vào con số thống kê, ta thấy 48% Thế Hệ Y tin Thiên Chúa. Nhưng điều đó có thể gây hiểu lầm. Vì còn 30% nữa cho biết họ không biết chắc. Ngay những người nói họ không tin Thiên Chúa, ta vẫn có thể hiểu họ muốn nói: “chúng tôi không tin Đấng Thiên Chúa của các anh, hay Đấng Thiên Chúa của các tôn giáo định chế”. Còn những người không biết chắc, thì hết hai phần ba cho biết họ tin vào một hữu thể hay một lực sống cao hơn trong vũ trụ. Và đa số họ còn tin thêm rằng hữu thể hay lực sống cao hơn đó quan tâm chăm sóc tới họ nữa. Thành thử ra, có đến 80% Thế Hệ Y tin có một cái gì đó ở bên ngoài kia, và có tới 70% Thế Hệ Y tin cái gì bên ngoài kia ấy quan tâm tới họ. Một trong các tác giả của phúc trình, là Michael Mason, cho rằng đó là hình ảnh có tính cá nhân hóa rõ rệt đối với ‘cái gì đó ở bên ngoài kia’, một cái gì họ tin là có thật.
Kết quả cuộc nghiên cứu cho thấy nhóm Truyền Thống chiếm 44 %, nhóm Chiết Trung chiếm 17% còn nhóm Duy Nhân chiếm 31%. Như thế đủ thấy nhóm Duy Nhân khá đông. Đông hơn con số thống kê chính thức của điều tra dân số. Nhưng đâu là vai trò của các Giáo Hội, một lãnh vực vốn là chuyên môn của Mason, vì ngài là một linh mục. Theo ngài, đây là phạm vi chính của cuộc điều tra. Và ở đây, người ta thấy các Giáo Hội như Anh Giáo và Công Giáo cũng chẳng lôi cuốn Thế Hệ Y gì lắm so với một vài giáo hội khác. Anh Giáo chiếm khoảng 8% Thế Hệ Y, ít hơn con số Thống Kê Dân Số là chừng 8% hay 9%. Có khá nhiều người Anh Giáo thuộc Thế Hệ Y cho biết trước đây họ từng theo Anh Giáo nhưng nay không còn thuộc hệ phái ấy nữa. Các tác giả hỏi những người hiện nay không còn thuộc bất cứ giáo hội nào xem họ có thuộc giáo hội nào khi còn nhỏ tuổi hơn không, thì phần lớn nói là họ thuộc một giáo hội nào đó, cho đến cuối ban tiểu học. Việc chuyển tiếp từ tiểu học qua trung học thường là lúc người trẻ quyết định giáo hội không là của họ nữa. Và trong cả hai nhóm Anh Giáo và Công Giáo, đến hơn một phần tư trả lời “Có”, tôi vốn thuộc giáo phái ấy, tôi vốn nghĩ mình là Anh Giáo hay Công Giáo, nhưng nay, tôi hết nghĩ như thế nữa.
Tuy nhiên, những giáo phái như Luthêrô, Giáo Hội Chúa Kitô, Baptist, Pentecostal chiếm đến 16% Thế Hệ Y và họ nổi bật về nhiều phương diện trong niềm tin và thực hành Kitô giáo. Về phía Công Giáo, xem ra nhiều người thuộc Thế Hệ Y có phần tâm linh cao hơn là thế hệ cha mẹ họ, tức Thế Hệ Được Mùa Con Nít (Baby Boomers). Xem ra họ ý thức mạnh hơn đến mối liên kết bản thân của họ với Thiên Chúa. Và hình như cũng vì vậy mà có sự thay đổi trọng tâm từ chính trị qua bản thân nữa.
Đối với các tôn giáo khác như Hồi Giáo chẳng hạn, thì tuy họ rất mạnh về một số niềm tin và thực hành tôn giáo, nhưng việc tham dự các buổi phụng vụ, thì có vẻ lại không bằng các nhóm Kitô giáo khác. Có thể vì họ sống không gần các đền thờ chăng. Họ có chịu ảnh hưởng bởi trào lưu thích ứng với hiện đại và đổi thay không? Điều này không tránh khỏi, vì mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh bởi gia tài sắc tộc của họ với các yếu tố tôn giáo của nó, họ vẫn tỏ ra hết sức Úc Châu ở nhiều phương diện khác. Giữa các niềm tin từng tạo nên tôn giáo của họ, họ nghĩ họ có quyền muốn lựa và lọc niềm tin nào họ thích, họ có khuynh hướng muốn nhìn nhận rằng các giá trị luân lý chỉ là tương đối, và không hề có điều đúng và điều sai tuyệt đối cho mọi người. Thành ra, nói chung, một số các nhấn mạnh có tính duy cá nhân, vốn là đặc điểm nổi bật của Thế Hệ Y, cũng đã tìm được đường xâm nhập các nhóm tôn giáo khác như Hồi Giáo, Phật Giáo và Ấn Giáo.
Nhưng cần lưu ý một điều những người trả lời không thuộc một trong các giáo hội định chế trên không có nghĩa là họ thuộc Nhóm Vô Tôn Giáo. Nghĩ như thế không đúng. Vì tuy không thuộc một giáo hội định chế nào, nhiều người vẫn duy trì một số niềm tin tôn giáo và tham dự một số các thực hành tôn giáo riêng tư. Đúng như nhà xã hội học Hans Moll ở thập niên 1970 đã nói: phần lớn những người thuộc nhóm “Vô Tôn Giáo” thực sự là đại biểu cho những người thực hành tôn giáo cách riêng tư, một thứ cảm nhận linh đạo cá thể. Ông ta gọi họ là các tín hữu riêng tư. Nhưng ngày nay, trong ngành xã hội học về tôn giáo, người ta đang tranh luận gay gắt xem liệu những tín hữu riêng tư ấy có giữ được chút tôn giáo nào trong họ hay không. Nhiều người cho rằng cái gì đơn độc (solitary) cũng hết sức mỏng dòn, dễ vỡ.
Nhưng phải nói sao về những người cho là mình vô tôn giáo nhưng là người tâm linh? Theo Andrew Singleton, tại Hoa Kỳ, người ta đã tìm hiểu nhiều về mối liên hệ giữa những người thưa Có, tôi là người tâm linh, nhưng không phải là người tôn giáo. Thiển nghĩ nhóm chiết trung cho ta một số ý niệm ở đây, vì họ vốn ủng hộ một loạt các niềm tin khác nhau và một số ít hơn các thực hành, nên ta có thể gọi họ là tâm linh nhưng đứng ngoài biên giới tôn giáo. Tuy nhiên, trong cuộc điều tra này, các tác giả tránh không đặt ra các câu hỏi liên quan đến tâm linh đối nghịch với tôn giáo. Vì trong các cuộc phỏng vấn trước khi thực hiện cuộc điều tra này, họ thấy rằng phần lớn giới trẻ không thực sự hiểu rõ linh đạo là thế nào. Mà có yêu cầu người trẻ định nghĩa chữ linh đạo đi chăng nữa, hay họ nghĩ gì về chữ này, thì phần đông tỏ ra lúng túng. Thành thử, các tác giả chỉ đặt những câu hỏi đại loại như “bạn có nghĩ là bạn sống lối sống đó không? Hay nếu không, thì là lối sống nào? Một lối hỏi gián tiếp. Nói cách khác, theo Michael Mason, giới trẻ không dùng hạn từ linh đạo. Điều ấy không mấy quan trọng. Các tác giả dùng cách khác để đề cập tới nội dung của linh đạo. Dù sao, ở đây, hạn từ này cũng không được dùng rộng rãi như tại Hoa Kỳ. Hơn nữa, các tác giả phỏng vấn người trẻ mà có em chỉ mới 12 tuổi, nên chữ linh đạo có một nghiã rộng rãi hơn chữ tôn giáo.
Lược tóm trên đây đủ cho thấy cuộc điều tra trên không thể bị coi là một phí phạm, trái lại là một đóng góp lớn để điều hướng mục vụ giới trẻ trong tương lai. Giới trẻ thực ra không hẳn là một giới người, một thế hệ cứng ngắc, nó có tính lưu chẩy và tùy cố gắng đúng chỗ của ta mà dòng chẩy của nó hướng về phía nào. Đối với chúng ta, hướng đó vẫn luôn là hướng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Kitô lịch sử đã đành, nhưng nhất là Đấng Kitô đang sống động trong lòng Giáo Hội, trong lịch sử nhân loại.
Bill Farrelly, người giữ một mục trên tờ Marist Messenger, thì chú trọng nhiều hơn tới Thế Hệ X, có thể nói như thế, nghĩa là Thế Hệ đi trước thế hệ Y, hay thế hệ cha mẹ của thế hệ này. Theo ông, muốn “nắm” được Thế Hệ Y thì phải nắm được Thế Hệ X. Đầu dây mối rợ của hiện tượng xa rời Giáo Hội nằm chính trong Thế Hệ X này.
Ngày 16 tháng 6 vừa qua, Farrelly cho đăng một bài tựa là “Những người ngoại giáo tí hon xinh đẹp” (Beautiful little pagans). Ông bắt đầu bằng một lời thống thiết “Vì Chúa Kitô, xin Giáo Hội hãy tỉnh dậy!”. Ông bảo: ông không có ý phạm thượng, mà chỉ đưa ra một lời khẩn khoản, đồng thời dóng lên tiếng nói thất vọng của mình khi khám phá ra lý do tại sao 7 trong số 8 đứa cháu của ông cứ tiếp tục làm người ngoại giáo tí hon xinh đẹp. Lý do ấy là: ông đã cố gắng truyền lại cho con cái ông niềm tin của ông, nhưng con cái ông đã từ khước không truyền lại cho con cái chúng cùng một niềm tin ấy, thậm chí từ khước luôn cả việc rửa tội cho chúng.
Farrelly cho hay: con cái ông là những con người đứng đắn, biết lo lắng, trung thực và biết yêu thương. Ông tôn trọng quyết định của chúng trong việc ngưng không tham dự Thánh Lễ nữa, vì chúng có quyền lựa chọn như thế. Nhưng điều ông không hiểu và dường như con cái ông không hiểu là chúng đã vô tình tước mất quyền lựa chọn ấy của con cái chúng, vì chúng đã không cho con cái chúng có dịp tiếp xúc với đức tin như chính chúng từng được cha mẹ chúng cho tiếp xúc.
Đó là mối thất vọng đầu. Mối thất vọng sâu xa hơn và thực chất hơn, theo Farrelly, phát xuất từ Giáo Hội. Bởi thế ông mới tha thiết khẩn khoản: “vì Chúa Kitô, xin Giáo Hội hãy tỉnh dậy!”. Ông cho rằng số đông các vị hồng y và giám mục phải chịu trách nhiệm về những điều đang xẩy ra. Các ngài là nguyên nhân chính khiến cho quá nhiều người trưởng thành ngưng không tham dự Thánh Lễ nữa và do đó không cho con cái mình theo học các trường Công Giáo hay Kitô Giáo nữa. Các ngài chịu phần trách nhiệm lớn hơn cả khiến những trẻ em này không được rửa tội và chỉ nhận được một nền giáo dục thế tục.
Farrelly bảo: ông biết các nhà lãnh đạo Giáo Hội đang phải đương đầu với rất nhiều trở ngại, các ngài không tạo ra chủ nghĩa duy vật, một chủ nghĩa đang làm con người thời nay, cả người tin lẫn không tin, quay mặt khỏi Thiên Chúa và luân lý. Nhưng xem ra nhiều vị không muốn hay không có khả năng xử lý các thách đố này. Ông không chối cãi việc vẫn có những vị giám mục và hồng y can đảm, sẵn sàng đương đầu với các thách đố này và biết rằng Giáo Hội phải trở nên thích ứng hơn với cuộc sống hằng ngày của người ta. Nhiều linh mục, tu sĩ và nữ tu cũng đang dấn thân trên nẻo đường này. Ông ngả mũ kính cẩn chào các nhà lãnh đạo ấy.
Ông chỉ mong giáo dân từ Thánh Lễ Chúa Nhật trở về, cảm thấy mình được tươi mát trở lại, được thúc đẩy trở lại nhờ những bài giảng có linh hứng, có thách thức. Theo ông, nhiều bài giảng chỉ lặp đi lặp lại, nghe buồn nản và chẳng dính dáng gì. Người ta, nhất là người trẻ, rất mong được thông tri. Các giáo hội Kitô Giáo khác đã chứng tỏ rằng muốn người ta đến với mình, mình phải làm cho việc thông tri thiêng liêng dính dáng với cuộc sống của thế kỷ 21. Và điều quan trọng là: nếu người lớn đến, thì trẻ em sẽ đến. Và rồi một ngày kia, khi chúng lớn khôn, chúng sẽ tự quyết định có nên tiếp tục đến hay không.
Bởi thế, Farrelly cho hay: ông tiếp tục cầu nguyện để những đứa cháu của ông nhận được cơ may mà cha mẹ ông từng đem lại cho ông, mà ông và vợ ông từng đem lại cho con cái mình. Ông cũng cầu nguyện cho các vị giám mục và hồng y để các ngài làm dễ diễn trình tạo cơ may ấy.
Phản ứng
John Kelly ở Adelaide nghĩ rằng nhận định của Farrelly về trách nhiệm của hàng giáo phẩm có hơi quá đáng. Theo ông, cha mẹ nào cũng đều có trách nhiệm phải chuyển giao đức tin cho con cái. Ông tin rằng các cố gắng của ta cộng với lời cầu nguyện sẽ không uổng công. Lời của Thánh Ambrôsiô với Thánh Nữ Monica về cậu thanh niên Augustinô là một khích lệ và bảo đảm rất lớn.
Một độc giả khác, Gary Edmonds, thì cho rằng lý do khiến các anh chị em ông không tham dự Thánh Lễ là vì Chân Lý đã không được truyền lại cho họ một cách hữu hiệu. Nói rằng Chúa Giêsu yêu bạn quả có đúng, nhưng đàng sau câu nói ấy còn có một câu truyện, một ý niệm, một cuộc sống cần được gia đình rao giảng. Nếu người ta không nắm được Chân Lý ấy thì không hẳn là do bài giảng của một linh mục nào đó, mà vì bạn vẫn còn nói một thứ ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của con cái. Phải rao giảng ngay ở chỗ họ đang hiện hữu. Hãy sử dụng loại suy (analogies), liên hệ đức tin với một điều gì đó họ ưa thích.
Nhưng phản ứng chi tiết nhất là của David Timbs, ở Albion, Victoria. Ngày 23 tháng 8 vừa qua, “blog” của hãng tin Cathnews cho đăng tải đóng góp của ông, tựu trung, cũng để nói lên nỗi lo ngại về hiện tượng quá chú trọng tới giới trẻ, tới Thế Hệ Y, mà phần nào quên lãng các thế hệ khác.
Bản phúc trình về nền linh đạo của Thế Hệ Y
David Timbs đặc biệt lưu ý tới bản phúc trình năm 2004 do Đại Học Công Giáo Úc thực hiện về linh đạo của Thế Hệ Y, dưới sự bảo trợ của Hội Đồng Giám Mục Úc Châu. Thế hệ Y được mô tả là mắc hội chứng quá tự yêu mình (narcissistic), thiếu động lực, thiếu cam kết và kỷ luật. Người ta có thể cho rằng họ được bảo vệ quá đáng, được khích lệ và nuông chiều thái quá. Đây là một thế hệ bị quyến rũ bởi câu thần chú “bạn có thể trở thành bất cứ điều gì bạn muốn” và ít khi nghe cha mẹ nói chữ “không” cũng như ít khi chịu học biết các biên giới xã hội. Mỹ từ “quyền lợi” thường được nghe thấy, chứ hạn từ “trách nhiệm” thì ít khi được nghe.
Riêng về phương diện tôn giáo, Bản Phúc Trình của Đại Học Công Giáo Úc cho ta một số thống kê khá lý thú về Thế Hệ Y: 31% nhận mình là duy nhân (humanist), ý thức rất ít hay không ý thức gì về “Thiên Chúa” hay “một quyền lực cao hơn” theo nghĩa tín điều; 17% cho mình không thuộc một hệ thống tuyên tín nào; 32% không có ý kiến; chỉ có 19% tự nhận mình thực hành niềm tin. Điều cũng lý thú là những người trả lời cuộc thăm dò cho biết họ rất ít quan tâm tới các giáo phái hay những nhóm tôn giáo ngoại biên (religious side-shows). Xem ra những hứa hẹn “yêu thương” và phúc âm thịnh vượng của một Kitô Giáo nhạc rock không lôi cuốn họ lâu dài.
Theo David Timbs, những sự kiện trên đem đến cho Giáo Hội một bằng chứng rõ ràng rằng Giáo Hội cần phải xem sét cả việc mình tự trình bày với giới trẻ ra sao lẫn việc mình đã lượng giá chương trình nối vòng tay lớn về phúc âm của mình như thế nào. Ông bảo sự lo lắng và bất mãn của Bill Farrelly một phần có lẽ đã phát sinh từ việc lãnh đạo nghèo nàn trong Giáo Hội, không biết nhìn trước. Có lẽ các ngài đang xây dựng những đền đài và viện bảo tàng lộng lẫy cho giới trẻ mà quên không chăm lo mục vụ cho thửa vườn (Gioan XXIII). David Timbs cũng cho rằng Mark Johnson có lý khi cho rằng Giáo Hội đã qui hướng các năng lực rao giảng Tin Mừng của mình một cách nghèo nàn vào giới trẻ. Cha mẹ là người cần được giúp đỡ để hiểu các hậu quả của việc dẫn đưa con cái mình vào thứ bí tích “xã hội học”, tức cái thứ nghi thức vào đời theo kiểu Clayton: cơ hội để chụp hình (photo op) với những món quà hậu hĩnh và tiệc tùng sau đó. Phó sản của cái thứ “bí tích” này là so sánh, là nhận vơ, là loại bỏ và cả bắt nạt nhau về phương diện xã hội và kinh tế. Hỏi thực tại lâu dài nào còn tồn tại nơi đứa trẻ sau khi những cái đó qua đi? Phép Rửa, Phép Thánh Thể và Phép Thêm Sức dẫn đưa nó vào thứ cộng đồng Kitô Giáo nào? Cam kết lâu dài và diễn tiến nằm ở đâu? Những dịp như Giáng Sinh và Phục Sinh cũng thế. Chúng đã bị rút gọn để trở thành những chuyện “con nít”. Quả cha mẹ của Thế Hệ Y đã âm thầm trao con cái mình cho những ông quản trị viên của thị trường ngoài kia.
David Timbs trích dẫn Michael Carr-Gregg, một tâm lý gia trẻ, người đã nhận diện ra bốn thế giới có tương quan với nhau mà tuổi trẻ gọi là nhà: thế giới bên trong, thế giới gia đình, thế giới bạn bè và thế giới trường học. Mới đây, ông ta còn thêm thế giới thứ năm, tức thế giới liên mạng. Đó là các lãnh vực xã hội hóa của tuổi trẻ nhưng đáng sợ thay, 90% sự tương hành qua lại giữa các thế giới này đã được thực hiện bằng điện tử! Và điều dễ hiểu là các thế giới đó đem đến thật nhiều sợ hãi, lo âu và hỗn độn cho nhiều người trẻ đang chới với đương đầu với những sức mạnh quá lớn đến không thể xử lý được. Dễ bị khai thác và thao túng là đặc điểm nổi bật của tuổi trẻ khắp nơi, đến nỗi nếu để một mình, họ khó có thể lèo lái cách an toàn trong các thế giới ấy. Các người trẻ Công Giáo của chúng ta cũng thế thôi.
Tuy nhiên, theo David Timbs, một trong những khám phá ấm lòng của Phúc Trình trên là dù Thế Hệ Y dành rất ít thì giờ hay không dành chút thì giờ nào cho Giáo Hội định chế, nhưng họ hết sức mến phục bộ mặt không vô nghĩa, bộ mặt rất bình dân nhưng lại nhiều thách đố của Chúa Giêsu. Tín điều đã mất hẳn đối với họ, nhưng Chúa Giêsu chân thực của Phúc Âm thì không, Người vẫn liên hệ với kinh nghiệm nhân bản. Người vẫn có thể nói với họ và nói cho họ bằng một giọng thuyết phục và dễ hiểu. Điều ấy hình như chúng ta thiếu đã lâu.
Tuy nhiên, theo Alex Reichel, ở Oyster Bay, Sydney, sự chú ý tới Chúa Giêsu của Thế Hệ Y trên đây chỉ là chuyện mây gió (ephemeral) và chưa được dị biệt hóa khỏi cảm tính. Muốn làm cho Chúa Giêsu hiện thực thật sự thì cần phải yêu Thánh Kinh. Thánh Thần của Chúa Giêsu vượt qua mọi biên giới xã hội. Hãy đọc Tông Đồ Công Vụ sẽ thấy: Chúa Giêsu chân thực kia đã thành lập một Giáo Hội.
Đối với Bản Phúc Trình của Đại Học Công Giáo Úc, Marjorie ở Brisbane nhận xét rằng đó không hẳn là một cuộc thăm dò giới trẻ Công Giáo mà thôi, bởi lẽ đa số các sinh viên thuộc Đại Học này không nhất thiết là người Công Giáo. Tuy nhiên, bản thăm dò trên có những câu hỏi khá chi tiết về đức tin Công Giáo như về Sự Hiện Diện Thực Sự của Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể. Chỉ có điều bản thăm dò đã không giải thích các câu trả lời theo hậu cảnh đức tin của sinh viên.
Bởi thế, theo Garry ở Ipswich, Queensland, đã đến lúc phải có một cuộc nghiên cứu dựa trên việc tham dự Thánh Lễ của giới trẻ, nhất là của các học sinh tiểu và trung học. Hiện nay, nhiều dữ kiện thống kê đang cho thấy việc tham dự Thánh Lễ tại các nhà thờ Công Giáo của hai lớp người này khá nghèo nàn. Trong trường hợp các học sinh tiểu học, những em không thể tham dự Thánh Lễ nếu không được cha mẹ đưa đi, điều hiển nhiên là phải tập chú các cố gắng mục vụ vào cha mẹ. Cha mẹ có tham dự Thánh Lễ, con cái họ mới có dịp tham dự. Riêng đối với các học sinh trung học, vấn đề có phức tạp hơn. Nhiều cuộc nghiên cứu còn cho thấy, sau khi rời trung học, đa số các em còn ngưng hẳn việc tham dự Thánh Lễ. Người ta, vì thế, nghiêng hẳn về lối giải thích: Không có gì trong Thánh Lễ lôi cuốn và vận dụng được các em.
Fran, ở Brisbane, tự nhận mình là người sinh trong thập niên 1960. Thế hệ của bà (ông?) được người ta liệt vào thế hệ thứ 2 của những người Công Giáo không được học (uneducated). Thành thử, Thế Hệ Y, một Thế Hệ không được giáo dục, không được học về đức tin thì làm sao biết và hiểu được đức tin ấy? Fran là người may mắn nhờ được “thách thức” bởi bà mẹ và sở thích đọc và thích học hỏi các sách vở tiền Công Đồng Vatican II. Phúc đức khác của Fran là gặp được những “người đi lễ” hằng ngày hiểu biết đức tin, sẵn sàng đồng hành với bà (ông?). Fran thú nhận: ít gặp được vị nào trong hàng ngũ ơn gọi tu trì chịu dạy theo Thánh Kinh và Huấn Quyền.
Chủ điểm Bản Phúc Trình “Nền Linh Đạo Thế Hệ Y”
Trên VietCatholicNews, từ 16 tháng 6 năm 2008, chúng tôi có cho đăng tải một loạt bài về bản Phúc Trình “Nền Linh Đạo Thế Hệ Y” của Đại Học Công Giáo Úc, nhân dịp sắp sửa khai mạc Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Sydney. Đúng như Marjorie ở Brisbane nhận xét, bản phúc trình này nhằm khám phá nền linh đạo của tuổi trẻ Úc nói chung, chứ không hẳn tuổi trẻ Công Giáo Úc nói riêng. Tuy nhiên, nó cung cấp thật nhiều dữ kiện hữu ích cho mục vụ giới trẻ Công Giáo, và nhất định là một gợi ý, hay đúng hơn, một kích thích tố giúp Hội Đồng Giám Mục Úc nói chung và Đức Hồng Y George Pell của Sydney nói riêng mạnh dạn đứng ra đăng cai tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2008, một ngày giới trẻ tuyệt vời dưới bầu trời lồng lộng của Thánh Giá Phương Nam. Chỉ cần nhớ lại đêm Chầu Thánh Thể với 400,000 con người, trong đó, có cả người Kế Vị Phêrô, im lặng rập mình thờ lạy Ngôi Hai Nhập Thể, đại diện cho cả và thiên hạ cùng vũ trụ tinh hà, cũng đủ lấy lại sở hụi tổ chức rồi.
Nói thế có vẻ “tâng bốc” giá trị của Bản Phúc Trình quá đáng. Thực ra, nó chỉ nhằm thăm dò nền linh đạo của lớp người được họ tổng kết là theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy cá nhân, một chủ nghĩa hết sức thách thức quan niệm cổ truyền cho rằng xã hội chỉ vững ổn khi các thành viên của nó có chung các giá trị và niềm tin giống nhau. Không biết hình ảnh 400,000 con người trong đêm vọng Ngày Giới Trẻ Thế Giới 2008 tại Sydney có đánh đổ được phần nào cái khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa này hay không. Nhưng rõ ràng đó là ý nguyện của những người đứng ra tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2008, và là ý nguyện của người sáng lập ra ngày này, Đức Cố Giáo Hoàng và là Người Tôi Tớ của Chúa, Gioan Phaolô II.
Bản Phúc Trình cũng nhấn mạnh điều này, điều mà Farrelly nhấn mạnh rất đúng: Thế Hệ Y không được lên khuôn do các biến cố mới đây, mà chính nền văn hóa Úc và cha mẹ họ đã lên khuôn cho họ. Chính Thế Hệ Được Mùa Con Nít, tức cha mẹ họ, đã sống qua thời kỳ có những biến chuyển lớn về xã hội và văn hóa trong hai thập niên 1960 và 1970. Thành thử, cố gắng tái phúc âm hóa cần được tập chú vào cha mẹ của Thế Hệ Y. Trong các nhà thờ Công Giáo Úc hiện nay, sự vắng bóng các cha mẹ này hết sức rõ ràng. Và phải chăng hiện tượng ấy cũng đang xẩy ra cho các cộng đồng Công Giáo Việt Nam, nhất là các cộng đồng hải ngoại?
Một điểm nữa được Bản Phúc Trình nhấn mạnh, ngược với Garry ở Queensland, là họ không dựa vào con số tham dự Thánh Lễ để nghiên cứu thái độ giới trẻ đối với tôn giáo mà dựa vào linh đạo hay cuộc sống tâm linh. Đã đành, tại Israel, linh đạo liên hệ đến ý niệm thần linh, đến ý niệm Thiên Chúa. Từ thế kỷ 17 trở đi, nó chỉ phong cách bản thân của từng người đối với việc tôn giáo. Nhưng những lúc gần đây, linh đạo có một định nghĩa rộng rãi hơn nhiều, trong đó, tôn giáo định chế chỉ đóng một phần rất nhỏ. Ai cũng có thể tự định nghĩa được linh đạo của riêng mình. Khởi đầu cuộc nghiên cứu, nhiều người từ khước hoàn toàn ý niệm ‘tâm linh’ tuy họ vẫn có một lối sống, một thế giới quan, một hệ thống giá trị và đạo đức riêng. Thành ra, để không độc đoán loại trừ một ai, các tác giả đã đưa ra một định nghĩa hết sức rộng rãi về linh đạo: để chỉ bất cứ thế giới quan nào bạn có và bất cứ hệ thống giá trị nào đi đôi với thế giới quan kia, dù trong cách nói năng của bạn, bạn từ khước không dùng các hạn từ như linh đạo, tâm linh.
Từ đó, các tác giả đưa ra ba mẫu linh đạo: Truyền Thống, Chiết Trung (eclectic) và Duy Nhân (humanist). Linh Đạo Truyền Thống để chỉ những ai nhận mình là Kitô hữu, tham dự các giáo hội Kitô giáo, cũng như một số tín hữu thuộc các tôn giáo lớn có tính hoàn cầu, như Hồi Giáo, Phật Giáo và Ấn Giáo, vốn là các truyền thống tôn giáo cực kỳ lâu đời trên thế giới. Tuy nhiên, họ chỉ đại diện rất ít trong cuộc nghiên cứu này. Tóm lại, tuy Truyền Thống ở đây chỉ các Kitô Hữu và Các Truyền Thống Khác, nhưng cốt chính vẫn nhằm vào các Kitô hữu, bởi lý do đơn giản họ là nhóm đa số gắn bó với con đường truyền thống.
Chiết Trung là những người tin theo hai hay nhiều hơn các niềm tin Tân Đại (New Age), bí truyền hay Đông Phương. Thí dụ, tin tái sinh, tin đồng bóng (psychics), tin bói toán hay thuật chiêm tinh. Thêm vào đó, họ còn có thể thực hành tới bốn thể loại tôn giáo và tâm linh Tân Đại, bí truyền hay Đông Phương sau đây: yoga, tai-chi, bói bài hay bói toán. Phải nói ngay, một số người tự nhận là Chiết Trung vẫn duy trì một số niềm tin của Kitô giáo, như tin có sự sống đời sau, tin thiên thần, ma qủy v.v… Tuy chưa biết liệu các niềm tin này có phù hợp với quan điểm truyền thống của Kitô giáo hay không. Căn cứ vào tính chiết trung của họ, nghĩa là cái quan điểm sẵn sàng ‘thu nhặt’ đủ thứ, thì các niềm tin kia khó mà đi đúng hướng của Kitô giáo chính thống.
Nhóm Duy Nhân là nhóm khá đông của Thế Hệ Y. Nên các tác giả muốn tìm hiểu cái nhìn của họ về cuộc đời. Gọi họ là Duy Nhân, vì xem ra nhóm này không muốn đi theo một con đường tâm linh nào, kể cả con đường Truyền Thống lẫn các nẻo đường Chiết Trung của Tân Đại, của bí truyền và của Đông Phương. Xem ra họ nhất định quay gót đối với các nền linh đạo ấy. Mà thật ra, họ không duy nhân theo nghĩa cực đoan của hội duy nhân hay hội duy lý. Họ không nhất thiết giận dữ chống đối tôn giáo cổ truyền, mà có phần tỏ ra khoan dung đối với các tôn giáo ấy. Nên theo định nghĩa, họ không bài tôn giáo, họ chỉ không chọn con đường ấy cho bản thân họ.
Nhiều người duy nhân cho hay họ tin Thiên Chúa. Thành thử, các tác giả Phúc Trình chia các người Duy Nhân theo nhiều cấp bậc khác nhau. Có những người duy nhân kiên định, nghĩa là những người cho hay họ không tin Thiên Chúa và chưa bao giờ tin cả. Tuy nhiên vẫn có một biên giới chung giữa người duy nhân và người truyền thống, trong đó, có người trước đây từng có liên hệ với Kitô giáo hay một tôn giáo truyền thống nào đó, nhưng nay đã rời khỏi các tôn giáo này, nhưng vẫn giữ lại một số niềm tin nào đó. Những người này không những có thể nói họ tin Thiên Chúa, mà cho dù họ nói họ không tin đi chăng nữa, thì họ vẫn tin vào một lực sống hay một hữu thể cao siêu nào đó.
Nói cho ngay, căn cứ vào con số thống kê, ta thấy 48% Thế Hệ Y tin Thiên Chúa. Nhưng điều đó có thể gây hiểu lầm. Vì còn 30% nữa cho biết họ không biết chắc. Ngay những người nói họ không tin Thiên Chúa, ta vẫn có thể hiểu họ muốn nói: “chúng tôi không tin Đấng Thiên Chúa của các anh, hay Đấng Thiên Chúa của các tôn giáo định chế”. Còn những người không biết chắc, thì hết hai phần ba cho biết họ tin vào một hữu thể hay một lực sống cao hơn trong vũ trụ. Và đa số họ còn tin thêm rằng hữu thể hay lực sống cao hơn đó quan tâm chăm sóc tới họ nữa. Thành thử ra, có đến 80% Thế Hệ Y tin có một cái gì đó ở bên ngoài kia, và có tới 70% Thế Hệ Y tin cái gì bên ngoài kia ấy quan tâm tới họ. Một trong các tác giả của phúc trình, là Michael Mason, cho rằng đó là hình ảnh có tính cá nhân hóa rõ rệt đối với ‘cái gì đó ở bên ngoài kia’, một cái gì họ tin là có thật.
Kết quả cuộc nghiên cứu cho thấy nhóm Truyền Thống chiếm 44 %, nhóm Chiết Trung chiếm 17% còn nhóm Duy Nhân chiếm 31%. Như thế đủ thấy nhóm Duy Nhân khá đông. Đông hơn con số thống kê chính thức của điều tra dân số. Nhưng đâu là vai trò của các Giáo Hội, một lãnh vực vốn là chuyên môn của Mason, vì ngài là một linh mục. Theo ngài, đây là phạm vi chính của cuộc điều tra. Và ở đây, người ta thấy các Giáo Hội như Anh Giáo và Công Giáo cũng chẳng lôi cuốn Thế Hệ Y gì lắm so với một vài giáo hội khác. Anh Giáo chiếm khoảng 8% Thế Hệ Y, ít hơn con số Thống Kê Dân Số là chừng 8% hay 9%. Có khá nhiều người Anh Giáo thuộc Thế Hệ Y cho biết trước đây họ từng theo Anh Giáo nhưng nay không còn thuộc hệ phái ấy nữa. Các tác giả hỏi những người hiện nay không còn thuộc bất cứ giáo hội nào xem họ có thuộc giáo hội nào khi còn nhỏ tuổi hơn không, thì phần lớn nói là họ thuộc một giáo hội nào đó, cho đến cuối ban tiểu học. Việc chuyển tiếp từ tiểu học qua trung học thường là lúc người trẻ quyết định giáo hội không là của họ nữa. Và trong cả hai nhóm Anh Giáo và Công Giáo, đến hơn một phần tư trả lời “Có”, tôi vốn thuộc giáo phái ấy, tôi vốn nghĩ mình là Anh Giáo hay Công Giáo, nhưng nay, tôi hết nghĩ như thế nữa.
Tuy nhiên, những giáo phái như Luthêrô, Giáo Hội Chúa Kitô, Baptist, Pentecostal chiếm đến 16% Thế Hệ Y và họ nổi bật về nhiều phương diện trong niềm tin và thực hành Kitô giáo. Về phía Công Giáo, xem ra nhiều người thuộc Thế Hệ Y có phần tâm linh cao hơn là thế hệ cha mẹ họ, tức Thế Hệ Được Mùa Con Nít (Baby Boomers). Xem ra họ ý thức mạnh hơn đến mối liên kết bản thân của họ với Thiên Chúa. Và hình như cũng vì vậy mà có sự thay đổi trọng tâm từ chính trị qua bản thân nữa.
Đối với các tôn giáo khác như Hồi Giáo chẳng hạn, thì tuy họ rất mạnh về một số niềm tin và thực hành tôn giáo, nhưng việc tham dự các buổi phụng vụ, thì có vẻ lại không bằng các nhóm Kitô giáo khác. Có thể vì họ sống không gần các đền thờ chăng. Họ có chịu ảnh hưởng bởi trào lưu thích ứng với hiện đại và đổi thay không? Điều này không tránh khỏi, vì mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh bởi gia tài sắc tộc của họ với các yếu tố tôn giáo của nó, họ vẫn tỏ ra hết sức Úc Châu ở nhiều phương diện khác. Giữa các niềm tin từng tạo nên tôn giáo của họ, họ nghĩ họ có quyền muốn lựa và lọc niềm tin nào họ thích, họ có khuynh hướng muốn nhìn nhận rằng các giá trị luân lý chỉ là tương đối, và không hề có điều đúng và điều sai tuyệt đối cho mọi người. Thành ra, nói chung, một số các nhấn mạnh có tính duy cá nhân, vốn là đặc điểm nổi bật của Thế Hệ Y, cũng đã tìm được đường xâm nhập các nhóm tôn giáo khác như Hồi Giáo, Phật Giáo và Ấn Giáo.
Nhưng cần lưu ý một điều những người trả lời không thuộc một trong các giáo hội định chế trên không có nghĩa là họ thuộc Nhóm Vô Tôn Giáo. Nghĩ như thế không đúng. Vì tuy không thuộc một giáo hội định chế nào, nhiều người vẫn duy trì một số niềm tin tôn giáo và tham dự một số các thực hành tôn giáo riêng tư. Đúng như nhà xã hội học Hans Moll ở thập niên 1970 đã nói: phần lớn những người thuộc nhóm “Vô Tôn Giáo” thực sự là đại biểu cho những người thực hành tôn giáo cách riêng tư, một thứ cảm nhận linh đạo cá thể. Ông ta gọi họ là các tín hữu riêng tư. Nhưng ngày nay, trong ngành xã hội học về tôn giáo, người ta đang tranh luận gay gắt xem liệu những tín hữu riêng tư ấy có giữ được chút tôn giáo nào trong họ hay không. Nhiều người cho rằng cái gì đơn độc (solitary) cũng hết sức mỏng dòn, dễ vỡ.
Nhưng phải nói sao về những người cho là mình vô tôn giáo nhưng là người tâm linh? Theo Andrew Singleton, tại Hoa Kỳ, người ta đã tìm hiểu nhiều về mối liên hệ giữa những người thưa Có, tôi là người tâm linh, nhưng không phải là người tôn giáo. Thiển nghĩ nhóm chiết trung cho ta một số ý niệm ở đây, vì họ vốn ủng hộ một loạt các niềm tin khác nhau và một số ít hơn các thực hành, nên ta có thể gọi họ là tâm linh nhưng đứng ngoài biên giới tôn giáo. Tuy nhiên, trong cuộc điều tra này, các tác giả tránh không đặt ra các câu hỏi liên quan đến tâm linh đối nghịch với tôn giáo. Vì trong các cuộc phỏng vấn trước khi thực hiện cuộc điều tra này, họ thấy rằng phần lớn giới trẻ không thực sự hiểu rõ linh đạo là thế nào. Mà có yêu cầu người trẻ định nghĩa chữ linh đạo đi chăng nữa, hay họ nghĩ gì về chữ này, thì phần đông tỏ ra lúng túng. Thành thử, các tác giả chỉ đặt những câu hỏi đại loại như “bạn có nghĩ là bạn sống lối sống đó không? Hay nếu không, thì là lối sống nào? Một lối hỏi gián tiếp. Nói cách khác, theo Michael Mason, giới trẻ không dùng hạn từ linh đạo. Điều ấy không mấy quan trọng. Các tác giả dùng cách khác để đề cập tới nội dung của linh đạo. Dù sao, ở đây, hạn từ này cũng không được dùng rộng rãi như tại Hoa Kỳ. Hơn nữa, các tác giả phỏng vấn người trẻ mà có em chỉ mới 12 tuổi, nên chữ linh đạo có một nghiã rộng rãi hơn chữ tôn giáo.
Lược tóm trên đây đủ cho thấy cuộc điều tra trên không thể bị coi là một phí phạm, trái lại là một đóng góp lớn để điều hướng mục vụ giới trẻ trong tương lai. Giới trẻ thực ra không hẳn là một giới người, một thế hệ cứng ngắc, nó có tính lưu chẩy và tùy cố gắng đúng chỗ của ta mà dòng chẩy của nó hướng về phía nào. Đối với chúng ta, hướng đó vẫn luôn là hướng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Kitô lịch sử đã đành, nhưng nhất là Đấng Kitô đang sống động trong lòng Giáo Hội, trong lịch sử nhân loại.