Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2009: "Chống đói nghèo để xây dựng hòa bình"
Vatican (VIS, AsiaNews) - Sáng hôm 11/12/2008, tại Văn phòng Báo chí Toà Thánh Vatican, Đức Hồng Y Renato Martino, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã trình bày Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2009 của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI. Chủ đề của sứ điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới 01/01/2009 là "Chống đói nghèo để xây dựng hòa bình".
Đức Hồng y Martino cho hay sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI "quay về và phát triển Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới năm 1993 của Đức Gioan Phaolô II, trong đó giải thích các mối tương quan và các hoàn cảnh tương hỗ lẫn nhau giữa đói nghèo và hòa bình". Lần này Đức Thánh Cha "cho chúng ta thấy hòa bình và cuộc đấu tranh chống đói nghèo giao nhau thế nào: thiết lập nên một trong những những giả định thú vị nhất, đưa ra một trọng tâm văn hoá, xã hội, chính trị phù hợp với các chủ đề phức tạp gắn liền với thành quả của hòa bình trong thời đại chúng ta, một thời đại mang đặc tính của hiện tượng toàn cầu hoá ".
Liên quan đến toàn cầu hóa, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến "ý nghĩa phương pháp luận và nội dung để đối mặt với chủ đề chống đói nghèo trong một phương thức rộng lớn và cụ thể" và để "phân tích sâu sắc những khía cạnh này nhằm xác định được những mặt phức tạp của đói nghèo ngày nay"; "Trên hết, Đức Thánh Cha cân nhắc vai trò của khoa học xã hội để đo lường hiện tượng đói nghèo. .. đưa ra định lượng dữ liệu và nếu đói nghèo là một vấn đề đơn thuần vật chất, chúng sẽ đủ đáp ứng cho việc giải thích đặc điểm của chúng. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng đó không phải là trường hợp này: không có các hình thức phi vật chất của đói nghèo mà không phải là hậu quả trực tiếp và tất yếu của sự tước đoạt vật chất".
Đức Hồng y giải thích thêm: "Trong các xã hội giàu có tiến bộ, hiện tượng nghèo về tương quan, đạo đức và tinh thần lan rộng: nhiều người cảm thấy bị loại bỏ và sống với nhiều hình thức bất ổn khác nhau, dù rằng kinh tế của họ phát đạt. Đây là những gì được gọi là ‘đạo đức kém phát triển’".
Đức Hồng y Martino đi đến kết luận: "Sứ điệp của Đức Thánh Cha thiết lập hai phần trong chủ đề chống đói nghèo. .. nó ràng buộc với các khía cạnh đa dạng nhằm thăng tiến hòa bình. Thứ nhất giải quyết những quan hệ đạo đức gắn liền với đói nghèo; thứ đến, chống đói nghèo cần gắn liền với sự cần thiết liên đới toàn cầu hơn nữa ".
Về sứ điệp, nói ngắn gọn, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến sự cần thiết "thay đổi lối sống, thay đổi những mô hình sản xuất và tiêu thụ, những cơ cấu quyền lực được thiết lập để điều hành các xã hội ngày nay" (số 15). Điều này đòi hỏi chúng ta cần có một tâm hồn để giúp phát triển, chống đói nghèo (vốn dĩ cả phát triển và đói nghèo là nguyên nhân và hậu quả của chiến tranh), và quản trị toàn cầu hóa. Khi bỏ quên những phương sách của chính bản thân nó thì cuối cùng cũng cho thấy rằng nó không thể giải quyết được các vấn đề khó khăn. Vì rằng lĩnh vực tài chính vốn không gắn bó lợi ích trong ngắn hạn cũng là điều hiển nhiên.
Sứ điệp bắt đầu với quan điểm cho rằng "chống đói nghèo đòi hỏi phải xem xét thấu đáo hiện tượng phức tạp của toàn cầu hóa" (số 2) và đi đến lập luận rằng đói nghèo không chỉ đơn thuần là vật chất vì người dân ở các nước giàu cũng đã kinh qua “bị loại bỏ, cũng như nghèo về tương quan, đạo đức và tinh thần”. Vì vậy, nghèo "liên quan đến luân lý" chẳng hạn như những người tham gia vào việc đưa ra tương quan sai lầm giữa đói nghèo và sự gia tăng dân số dẫn đến "những chiến dịch quốc tế [.. . ] nhằm giảm tỷ lệ sinh, đôi khi sử dụng các phương pháp không tôn trọng phẩm giá người nữ, cũng như quyền được lựa chọn có trách nhiệm có bao nhiêu đứa con của các bậc cha mẹ; dao mổ vẫn còn sử dụng, những phương pháp này thường không tôn trọng ngay cả quyền sống" vì "sự tiêu diệt hàng triệu hài nhi chưa sinh ra nhân danh đấu tranh chống đói nghèo, thực sự là tạo nên sự tiêu diệt những người nghèo nhất trong nhân loại" (số 3).
Giải thích thêm về điểm này, sứ điệp đưa ra chứng minh về mối tương quan không căn cứ giữa đói nghèo và dân số bằng sự kiện năm 1981 khoảng 40 phần trăm dân số thế giới sống dưới mức đói nghèo tuyệt đối, ngày nay tỷ lệ này giảm gần một nửa. Còn điều gì nữa, các quốc gia đang nổi lên trên vũ đài thế giới như là những cường quốc kinh tế mới "đã kinh qua sự phát triển nhanh chóng một cách rõ rệt do dân số họ đông". Mặc dù Đức Thánh Cha không đề cập đến Trung Quốc và Ấn Độ trong sứ điệp của mình, nhưng người ta nghĩ ngay đến các nước này. Tương tự, "đặc biệt khó khăn trong việc chống AIDS, một nguyên nhân chính của đói nghèo, trừ khi các vấn đề đạo đức có liên hệ đến sự lây lan loại virút này được bàn đến" (số 4).
Trẻ em nghèo và dễ bị tổn thương phải được xem xét từ viễn tượng là chúng được liên kết với tình trạng gia đình suy yếu. "Khi gia đình bị suy yếu, thì điều chắc chắn không thể tránh khỏi là trẻ em bị ảnh hưởng. Nếu phẩm giá của người phụ nữ và các bà mẹ không được bảo vệ, thì trẻ em là người bị ảnh hưởng nhiều nhất" (số 5).
Chiều kích luân lý của đói nghèo cũng bị ảnh hưởng bởi các "mối quan hệ giữa giải trừ quân bị và phát triển." Điều hiển nhiên là "vũ trang và phí tổn quân sự lớn, liên quan đến tài nguyên vật chất và nhân lực, thực tế đã bị chuyển hướng từ các dự án phát triển cho các dân tộc, đặc biệt là những người nghèo nhất đang cần viện trợ nhất" (số 6). Những cuộc chạy đua vũ trang tạo nên "những vùng kém phát triển và tuyệt vọng, vì thế có thể tạo nên nghịch lý trở thành nguyên nhân bất ổn, căng thẳng và xung đột".
Đức Thánh Cha cũng đề cập đến một khía cạnh khác của cuộc đấu tranh chống đói nghèo là cuộc khủng hoảng lương thực, vốn "mang đặc điểm không phải do thiếu lương thực, cũng không phải do gặp khó khăn trong việc tiếp cận lương thực mà do các hình thức đầu cơ khác nhau: nói cách khác, do thiếu một cơ cấu các tổ chức chính trị và kinh tế có khả năng chuyên tâm lo cho những nhu cầu và các trường hợp khẩn cấp" (số 7).
Nếu nguyên nhân của đói nghèo là toàn cầu, thì toàn cầu hóa đòi hỏi "một ý thức mạnh mẽ về liên đới toàn cầu giữa các nước giàu và các nước nghèo, cũng như trong các nước đơn lẻ, bao gồm cả những nước giàu có". Điều này có nghĩa là “cần phải có 'bộ luật luân lý chung', bao gồm những quy tắc không chỉ dựa trên sự nhất trí, mà còn phải bén rễ nơi luật tự nhiên được Đấng Sáng Tạo khắc ghi nơi lương tâm của mỗi con người (x. Rm 2,14-15)" (số 8).
Trên thực tế, toàn cầu hóa "chắc chắn loại bỏ những rào cản, nhưng lại vẫn có thể tạo ra những rào cản mới; nó mang các dân tộc đến gần với nhau, nhưng trạng thái gần về không gian và thời gian tự nó không tạo ra sự hiệp thông đích thực và hòa bình chân chính. Các phương tiện hiệu quả để khôi phục những người nghèo bị gạt bỏ trên thế giới thông qua toàn cầu hoá sẽ chỉ được tìm thấy, nếu ở khắp mọi nơi mỗi người cảm thấy bị xúc phạm cá nhân bởi sự bất công trên thế giới cùng những vi phạm nhân quyền đồng thời xảy ra" (số 8).
Thật vậy, những quan điểm của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI liên quan đến kinh tế và tài chính đã cập nhật rất nhiều. Tài chính là lĩnh vực mang ý nghĩa đặc biệt bởi do toàn cầu hóa, điện tử hiện đại, và tự do hoá lưu lượng vốn đầu tư. Mặc dù là "cuộc khủng hoảng gần đây đã chứng minh hoạt động tài chính đôi khi có thể hoàn toàn tự co gập lại trong chính nó, thiếu mọi sự xem xét đến lợi ích chung lâu dài ", "hạ thấp những mục tiêu tài chính toàn cầu rất ngắn hạn làm giảm khả năng của chức năng cầu nối giữa hiện tại và tương lai, cũng như kích thích tạo ra những cơ hội mới cho sản xuất và công ăn việc làm trong dài hạn. Theo chiều hướng này, nền tài chính hạn chế nhắm đến ngắn hạn và rất ngắn hạn sẽ trở nên nguy hiểm cho tất cả mọi người, kể cả đối với những người được hưởng lợi khi các thị trường trong thời kỳ tốt đẹp" (số 10).
Sự hiểu biết những nguyên nhân từ quan điểm toàn cầu có nghĩa là "cuộc đấu tranh chống đói nghèo đòi hỏi phải hợp tác cả trên bình diện kinh tế và bình diện pháp lý, cũng như cho phép cộng đồng quốc tế, và đặc biệt là các nước nghèo hơn xác định và thực hiện các chiến lược phối hợp để đối phó với các vấn đề được thảo luận trên đây, do đó cung cấp một khuôn khổ pháp lý có hiệu quả cho nền kinh tế".
Đồng thời kinh nghiệm cho thấy rằng "các chính sách nhấn mạnh quá nhiều đến trợ giúp sẽ làm nền tảng cho nhiều thất bại trong việc cung cấp viện trợ cho các nước nghèo. Đầu tư vào giáo dục con người, hình thành và phát triển nền văn hóa đặc trưng và toàn diện nơi doanh nghiệp dường như là lối tiếp cận đúng đắn hiện nay trong trung và dài hạn" (số 11).
"Nếu người nghèo được đặt ưu tiên hàng đầu, thì phải có chỗ cho cách tiếp cận đúng đắn về kinh tế đối với những người đang hoạt động trên thị trường quốc tế, có chỗ cho cách tiếp cận đúng đắn về chính trị đối với những người đang hoạt động trong lĩnh vực công, và có chỗ cho cách tiếp cận đúng đắn về sự tham gia để có khả năng lao vào đóng góp cho xã hội dân sự trên bình diện địa phương và quốc tế" (số12).
Chúng ta cần phải vượt thắng những ý tưởng cho rằng những vấn đề phát triển, viện trợ và hợp tác quốc tế có thể được giải quyết "mà không cần bất kỳ sự quan tâm đích thực của nhân tố con người, xem như đơn thuần là các vấn đề kỹ thuật – bị giới hạn bởi việc xây dựng cơ cấu, thiết lập các thỏa thuận thương mại, và phân bổ nguồn tài trợ không nhắm vào ai. Những gì cuộc đấu tranh chống đói nghèo thực sự cần là người nam và người nữ sống trong đường lối huynh đệ sâu sắc, và các cá nhân, các gia đình và các cộng đồng có thể đồng hành với nhau trên những hành trình của sự phát triển con người đích thực" (số 13).
Cuối cùng, trong "thế giới toàn cầu hóa ngày nay, ngày càng cho thấy rõ ràng rằng hòa bình chỉ có thể được kiến tạo nếu tất cả mọi người được đảm bảo khả năng tăng trưởng hợp lý: sớm hay muộn thì những méo mó được sản sinh từ những hệ thống bất công cũng làm cho mọi người phải trả giá. Thật là hết sức dại dột khi xây dựng một căn nhà sang trọng ở giữa sa mạc hay trong đổ nát suy tàn. Toàn cầu hoá tự nó không thể xây dựng hòa bình, và trong nhiều trường hợp, nó thực sự tạo ra tạo ra chia rẽ và xung đột. Ngược lại nó phát sinh một nhu cầu: hướng đến mục tiêu liên đới sâu sắc để tìm kiếm điều tốt đẹp cho mỗi người và mọi người. Trong ý nghĩa này, toàn cầu hoá nên được xem như là một cơ hội tốt để đạt đến điều gì đó quan trọng trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo, và đặt ra việc sử dụng các nguồn tài nguyên phục vụ cho công lý và hòa bình mà trước đây hiếm khi được nghĩ tới".
Vatican (VIS, AsiaNews) - Sáng hôm 11/12/2008, tại Văn phòng Báo chí Toà Thánh Vatican, Đức Hồng Y Renato Martino, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình đã trình bày Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2009 của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI. Chủ đề của sứ điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới 01/01/2009 là "Chống đói nghèo để xây dựng hòa bình".
Đức Hồng y Martino cho hay sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI "quay về và phát triển Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới năm 1993 của Đức Gioan Phaolô II, trong đó giải thích các mối tương quan và các hoàn cảnh tương hỗ lẫn nhau giữa đói nghèo và hòa bình". Lần này Đức Thánh Cha "cho chúng ta thấy hòa bình và cuộc đấu tranh chống đói nghèo giao nhau thế nào: thiết lập nên một trong những những giả định thú vị nhất, đưa ra một trọng tâm văn hoá, xã hội, chính trị phù hợp với các chủ đề phức tạp gắn liền với thành quả của hòa bình trong thời đại chúng ta, một thời đại mang đặc tính của hiện tượng toàn cầu hoá ".
Liên quan đến toàn cầu hóa, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến "ý nghĩa phương pháp luận và nội dung để đối mặt với chủ đề chống đói nghèo trong một phương thức rộng lớn và cụ thể" và để "phân tích sâu sắc những khía cạnh này nhằm xác định được những mặt phức tạp của đói nghèo ngày nay"; "Trên hết, Đức Thánh Cha cân nhắc vai trò của khoa học xã hội để đo lường hiện tượng đói nghèo. .. đưa ra định lượng dữ liệu và nếu đói nghèo là một vấn đề đơn thuần vật chất, chúng sẽ đủ đáp ứng cho việc giải thích đặc điểm của chúng. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng đó không phải là trường hợp này: không có các hình thức phi vật chất của đói nghèo mà không phải là hậu quả trực tiếp và tất yếu của sự tước đoạt vật chất".
Đức Hồng y giải thích thêm: "Trong các xã hội giàu có tiến bộ, hiện tượng nghèo về tương quan, đạo đức và tinh thần lan rộng: nhiều người cảm thấy bị loại bỏ và sống với nhiều hình thức bất ổn khác nhau, dù rằng kinh tế của họ phát đạt. Đây là những gì được gọi là ‘đạo đức kém phát triển’".
Đức Hồng y Martino đi đến kết luận: "Sứ điệp của Đức Thánh Cha thiết lập hai phần trong chủ đề chống đói nghèo. .. nó ràng buộc với các khía cạnh đa dạng nhằm thăng tiến hòa bình. Thứ nhất giải quyết những quan hệ đạo đức gắn liền với đói nghèo; thứ đến, chống đói nghèo cần gắn liền với sự cần thiết liên đới toàn cầu hơn nữa ".
Về sứ điệp, nói ngắn gọn, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến sự cần thiết "thay đổi lối sống, thay đổi những mô hình sản xuất và tiêu thụ, những cơ cấu quyền lực được thiết lập để điều hành các xã hội ngày nay" (số 15). Điều này đòi hỏi chúng ta cần có một tâm hồn để giúp phát triển, chống đói nghèo (vốn dĩ cả phát triển và đói nghèo là nguyên nhân và hậu quả của chiến tranh), và quản trị toàn cầu hóa. Khi bỏ quên những phương sách của chính bản thân nó thì cuối cùng cũng cho thấy rằng nó không thể giải quyết được các vấn đề khó khăn. Vì rằng lĩnh vực tài chính vốn không gắn bó lợi ích trong ngắn hạn cũng là điều hiển nhiên.
Sứ điệp bắt đầu với quan điểm cho rằng "chống đói nghèo đòi hỏi phải xem xét thấu đáo hiện tượng phức tạp của toàn cầu hóa" (số 2) và đi đến lập luận rằng đói nghèo không chỉ đơn thuần là vật chất vì người dân ở các nước giàu cũng đã kinh qua “bị loại bỏ, cũng như nghèo về tương quan, đạo đức và tinh thần”. Vì vậy, nghèo "liên quan đến luân lý" chẳng hạn như những người tham gia vào việc đưa ra tương quan sai lầm giữa đói nghèo và sự gia tăng dân số dẫn đến "những chiến dịch quốc tế [.. . ] nhằm giảm tỷ lệ sinh, đôi khi sử dụng các phương pháp không tôn trọng phẩm giá người nữ, cũng như quyền được lựa chọn có trách nhiệm có bao nhiêu đứa con của các bậc cha mẹ; dao mổ vẫn còn sử dụng, những phương pháp này thường không tôn trọng ngay cả quyền sống" vì "sự tiêu diệt hàng triệu hài nhi chưa sinh ra nhân danh đấu tranh chống đói nghèo, thực sự là tạo nên sự tiêu diệt những người nghèo nhất trong nhân loại" (số 3).
Giải thích thêm về điểm này, sứ điệp đưa ra chứng minh về mối tương quan không căn cứ giữa đói nghèo và dân số bằng sự kiện năm 1981 khoảng 40 phần trăm dân số thế giới sống dưới mức đói nghèo tuyệt đối, ngày nay tỷ lệ này giảm gần một nửa. Còn điều gì nữa, các quốc gia đang nổi lên trên vũ đài thế giới như là những cường quốc kinh tế mới "đã kinh qua sự phát triển nhanh chóng một cách rõ rệt do dân số họ đông". Mặc dù Đức Thánh Cha không đề cập đến Trung Quốc và Ấn Độ trong sứ điệp của mình, nhưng người ta nghĩ ngay đến các nước này. Tương tự, "đặc biệt khó khăn trong việc chống AIDS, một nguyên nhân chính của đói nghèo, trừ khi các vấn đề đạo đức có liên hệ đến sự lây lan loại virút này được bàn đến" (số 4).
Trẻ em nghèo và dễ bị tổn thương phải được xem xét từ viễn tượng là chúng được liên kết với tình trạng gia đình suy yếu. "Khi gia đình bị suy yếu, thì điều chắc chắn không thể tránh khỏi là trẻ em bị ảnh hưởng. Nếu phẩm giá của người phụ nữ và các bà mẹ không được bảo vệ, thì trẻ em là người bị ảnh hưởng nhiều nhất" (số 5).
Chiều kích luân lý của đói nghèo cũng bị ảnh hưởng bởi các "mối quan hệ giữa giải trừ quân bị và phát triển." Điều hiển nhiên là "vũ trang và phí tổn quân sự lớn, liên quan đến tài nguyên vật chất và nhân lực, thực tế đã bị chuyển hướng từ các dự án phát triển cho các dân tộc, đặc biệt là những người nghèo nhất đang cần viện trợ nhất" (số 6). Những cuộc chạy đua vũ trang tạo nên "những vùng kém phát triển và tuyệt vọng, vì thế có thể tạo nên nghịch lý trở thành nguyên nhân bất ổn, căng thẳng và xung đột".
Đức Thánh Cha cũng đề cập đến một khía cạnh khác của cuộc đấu tranh chống đói nghèo là cuộc khủng hoảng lương thực, vốn "mang đặc điểm không phải do thiếu lương thực, cũng không phải do gặp khó khăn trong việc tiếp cận lương thực mà do các hình thức đầu cơ khác nhau: nói cách khác, do thiếu một cơ cấu các tổ chức chính trị và kinh tế có khả năng chuyên tâm lo cho những nhu cầu và các trường hợp khẩn cấp" (số 7).
Nếu nguyên nhân của đói nghèo là toàn cầu, thì toàn cầu hóa đòi hỏi "một ý thức mạnh mẽ về liên đới toàn cầu giữa các nước giàu và các nước nghèo, cũng như trong các nước đơn lẻ, bao gồm cả những nước giàu có". Điều này có nghĩa là “cần phải có 'bộ luật luân lý chung', bao gồm những quy tắc không chỉ dựa trên sự nhất trí, mà còn phải bén rễ nơi luật tự nhiên được Đấng Sáng Tạo khắc ghi nơi lương tâm của mỗi con người (x. Rm 2,14-15)" (số 8).
Trên thực tế, toàn cầu hóa "chắc chắn loại bỏ những rào cản, nhưng lại vẫn có thể tạo ra những rào cản mới; nó mang các dân tộc đến gần với nhau, nhưng trạng thái gần về không gian và thời gian tự nó không tạo ra sự hiệp thông đích thực và hòa bình chân chính. Các phương tiện hiệu quả để khôi phục những người nghèo bị gạt bỏ trên thế giới thông qua toàn cầu hoá sẽ chỉ được tìm thấy, nếu ở khắp mọi nơi mỗi người cảm thấy bị xúc phạm cá nhân bởi sự bất công trên thế giới cùng những vi phạm nhân quyền đồng thời xảy ra" (số 8).
Thật vậy, những quan điểm của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI liên quan đến kinh tế và tài chính đã cập nhật rất nhiều. Tài chính là lĩnh vực mang ý nghĩa đặc biệt bởi do toàn cầu hóa, điện tử hiện đại, và tự do hoá lưu lượng vốn đầu tư. Mặc dù là "cuộc khủng hoảng gần đây đã chứng minh hoạt động tài chính đôi khi có thể hoàn toàn tự co gập lại trong chính nó, thiếu mọi sự xem xét đến lợi ích chung lâu dài ", "hạ thấp những mục tiêu tài chính toàn cầu rất ngắn hạn làm giảm khả năng của chức năng cầu nối giữa hiện tại và tương lai, cũng như kích thích tạo ra những cơ hội mới cho sản xuất và công ăn việc làm trong dài hạn. Theo chiều hướng này, nền tài chính hạn chế nhắm đến ngắn hạn và rất ngắn hạn sẽ trở nên nguy hiểm cho tất cả mọi người, kể cả đối với những người được hưởng lợi khi các thị trường trong thời kỳ tốt đẹp" (số 10).
Sự hiểu biết những nguyên nhân từ quan điểm toàn cầu có nghĩa là "cuộc đấu tranh chống đói nghèo đòi hỏi phải hợp tác cả trên bình diện kinh tế và bình diện pháp lý, cũng như cho phép cộng đồng quốc tế, và đặc biệt là các nước nghèo hơn xác định và thực hiện các chiến lược phối hợp để đối phó với các vấn đề được thảo luận trên đây, do đó cung cấp một khuôn khổ pháp lý có hiệu quả cho nền kinh tế".
Đồng thời kinh nghiệm cho thấy rằng "các chính sách nhấn mạnh quá nhiều đến trợ giúp sẽ làm nền tảng cho nhiều thất bại trong việc cung cấp viện trợ cho các nước nghèo. Đầu tư vào giáo dục con người, hình thành và phát triển nền văn hóa đặc trưng và toàn diện nơi doanh nghiệp dường như là lối tiếp cận đúng đắn hiện nay trong trung và dài hạn" (số 11).
"Nếu người nghèo được đặt ưu tiên hàng đầu, thì phải có chỗ cho cách tiếp cận đúng đắn về kinh tế đối với những người đang hoạt động trên thị trường quốc tế, có chỗ cho cách tiếp cận đúng đắn về chính trị đối với những người đang hoạt động trong lĩnh vực công, và có chỗ cho cách tiếp cận đúng đắn về sự tham gia để có khả năng lao vào đóng góp cho xã hội dân sự trên bình diện địa phương và quốc tế" (số12).
Chúng ta cần phải vượt thắng những ý tưởng cho rằng những vấn đề phát triển, viện trợ và hợp tác quốc tế có thể được giải quyết "mà không cần bất kỳ sự quan tâm đích thực của nhân tố con người, xem như đơn thuần là các vấn đề kỹ thuật – bị giới hạn bởi việc xây dựng cơ cấu, thiết lập các thỏa thuận thương mại, và phân bổ nguồn tài trợ không nhắm vào ai. Những gì cuộc đấu tranh chống đói nghèo thực sự cần là người nam và người nữ sống trong đường lối huynh đệ sâu sắc, và các cá nhân, các gia đình và các cộng đồng có thể đồng hành với nhau trên những hành trình của sự phát triển con người đích thực" (số 13).
Cuối cùng, trong "thế giới toàn cầu hóa ngày nay, ngày càng cho thấy rõ ràng rằng hòa bình chỉ có thể được kiến tạo nếu tất cả mọi người được đảm bảo khả năng tăng trưởng hợp lý: sớm hay muộn thì những méo mó được sản sinh từ những hệ thống bất công cũng làm cho mọi người phải trả giá. Thật là hết sức dại dột khi xây dựng một căn nhà sang trọng ở giữa sa mạc hay trong đổ nát suy tàn. Toàn cầu hoá tự nó không thể xây dựng hòa bình, và trong nhiều trường hợp, nó thực sự tạo ra tạo ra chia rẽ và xung đột. Ngược lại nó phát sinh một nhu cầu: hướng đến mục tiêu liên đới sâu sắc để tìm kiếm điều tốt đẹp cho mỗi người và mọi người. Trong ý nghĩa này, toàn cầu hoá nên được xem như là một cơ hội tốt để đạt đến điều gì đó quan trọng trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo, và đặt ra việc sử dụng các nguồn tài nguyên phục vụ cho công lý và hòa bình mà trước đây hiếm khi được nghĩ tới".