Các nhà lãnh đạo Hồi giáo gủi thư cho Đức Thánh Cha đề nghị các điểm tương đồng về thần học

Washington (CNS)- Lần đầu tiên, hơn 100 nhà lãnh tụ Hồi giáo cao cấp từ khắp nơi trên thế giới gửi một lá thư cho ĐTC Bênêđictô XVI và các nhà lãnh đạo Kitô giáo khác đề nghị dùng các điểm tương đồng về thần học làm căn bản cho hòa bình và thông cảm.

Trong bức thư được phổ biến ngày 11 tháng 10 tại Washington, 138 nhà lãnh đạo Hồi giáo nói: “Tìm ra điểm chung giữa người Hồi giáo và Kitô giáo không chỉ là vấn đề đối thoại toàn cầu có tính cách lịch sự giữa các vị lãnh đạo các tôn giáo được chọn lựa.

“Người Kitô giáo và Hồi giáo hợp thành 55% dân số thế giới, làm cho sự liên hệ giữa hai cộng đồng tôn giáo này trở thành yếu tố quan trọng nhất trong việc đóng góp cho một nền hoà bình đúng nghĩa trên khắp thế giới. Nếu người Hồi giáo và Kitô giáo không sống hòa bình với nhau thì thế giới không thể có bình an.

“Là những người Hồi giáo, chúng tôi nói với những người Kitô giáo rằng chúng tôi không chống lại họ, rằng Hồi giáo không chống lại họ - bao lâu họ không vì tôn giáo mà gây chiến tranh chống lại người Hồi giáo, áp bức họ và đẩy họ ra khỏi cửa nhà.

“Các nhà lãnh đạo từ các châu Á, Phi, Âu và Bắc Mỹ kêu gọi những người Kitô giáo và Hồi giáo chỉ nên tranh đua với nhau trong sự chính trực và các việc tốt.”

Lá thư đặc biệt phân tích hai điểm tương đồng về thần học tìm thấy trong Kinh Koran và Tân ước: tin một Chúa và yêu người.

Đức Hồng Y người Pháp Jean-Louis Tauran, chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn hôm 12 tháng 10 cho đài phát thanh Vatican biết rằng lá thư là “một dấu hiệu rất khích lệ bởi vì nó chứng minh rằng thiện chí và đối thoại có khả năng thắng thế được các định kiến.”

Ngài nói rằng tất cả các lãnh tụ tôn giáo phải kêu gọi tín đồ khẳng định “ba niềm xác tín trong lá thư: Chỉ có một Chúa; Chúa yêu thương chúng ta và chúng ta phải yêu mến Chúa; và Chúa kêu gọi ta yêu thương đồng loại.”

“Đó là bước tiến tinh thần để đi tới đối thoại giữa các tôn giáo, và đó là lời kêu gọi người Hồi giáo và Kitô giáo trả lời cho một câu hỏi căn bản: “Có thực chỉ có một Thiên Chúa trong cuộc đời bạn?”

Tổng giám mục Anh giáo Rowan Williams tại Canterbury trong bản tuyên bố ngày 11 tháng 10 trên web site của mình đã “hoan nghênh lá thư như một tái xác quyết rõ rệt khả năng phát triển thêm nữa cuộc đối thoại đang có và hoạt động chung giữa người Hồi giáo và Kitô giáo cũng như các cộng đồng tín ngưỡng khác.”

Lá thư của các lãnh tụ Hồi giáo, do Học viện Hoàng gia có trụ sở tại Jordan bảo trợ, được phổ biến một năm sau khi 38 nhà lãnh đạo Hồi giáo gửi một lá thư cho ĐTC Bênêđictô XVI để trả lời cho nhận xét của ngài tại Regensburg (Đức) về Hồi giáo và bạo động.

Trái với lá thư vừa nói, lá thư mới này “không tìm cách phản ứng mà thay vào đó tìm cách đề xướng” sự thảo luận thần học. Đó là lời ông John Esposito, giáo sư và giám đốc sáng lập Trung tâm Hoàng tử Alwaleed bin Talal nhằm tạo Hiểu biết giữa Hồi giáo và Kitô giáo, tại trường đại học Georgetown ở Washington.

Trong cuộc họp báo để phổ biến lá thư, ông nói rằng văn bản này gửi cho những người Kitô giáo nhưng cũng sẽ gây tiếng vang nơi các người Hồi giáo khắp thế giới. Lá thư có chữ ký của các đại diện nhiều phe phái khác nhau của Hồi giáo, là một tôn giáo không tập trung vào một cơ cấu giáo quyền, như đạo Công giáo.

Esposito nói tiếp rằng “bước kế tiếp dành cho các nhà lãnh đạo Kitô giáo họp lại với nhau để phúc đáp.”

Khi được hỏi tại sao thư này không được gửi cho người Do thái thì Ông Sayyed Hossein Nasr, một giáo sư tại trường đại học George Washington tại Washington và cũng là người ký tên trong lá thư trả lời rằng đó là “một lá thư thần học, không phải một lá thư chính trị.” Ông hy vọng rằng một lá thư khác của các lãnh tụ Hồi giáo gửi cho tất cả các tín ngưỡng sẽ được gửi đi trong tương lai.

Phụng Nghi

Phân tích lá thư 138 lãnh tụ Hồi giáo gửi cho ĐTC và các nhà lãnh đạo Kitô giáo

Bài của Samir Khalil Samir, Dòng Tên

Beirut (AsiaNews) – Lá thư của 138 học giả Hồi giáo gửi cho ĐTC và các nhà lãnh đạo Kitô giáo là một bước tích cực đầu tiên trên đường đi tới đối thoại, tuy nhiên cuộc đối thoại này cần trở thành phổ quát hơn, cụ thể hơn.

Lá thư nằm rõ rệt trong bối cảnh là phần kéo dài của lá thư thứ nhất gửi cho ĐTC Bênêđictô XVI cách nay đúng một năm, để trả lời cho bài diễn từ tuyệt tác của ngài tại trường đại học Regensburg : cùng một ngày được chọn để phổ biến (13 tháng 10 năm 2007), năm nay lại trùng vào dịp chấm dứt tháng chay Ramadan.

Một Lá thư do các đại diện cao cấp

Sự kiện những người ký tên trong thư đã gia tăng so với năm ngoái là điều đáng chú ý: từ 38 chữ ký năm ngoái đã tăng thành 138. Họ đại diện cho 43 quốc gia, cả quốc gia theo Hồi giáo và các nước khác (đặc biệt là các quốc gia tây phương). Trong số họ có các đại luật sĩ (great muftis, là các nhà lãnh đạo fatwa trong một nước), các lãnh tụ tôn giáo, các nhà hàn lâm và các học giả.

Ngoài đại diện của hai nhóm lớn là Sunni và Shiite, còn có những đại diện của các nhóm, các phái nhỏ hơn và ngay cả các khuynh hướng khác nhau, chẳng hạn nhóm thần bí nhất trong các khuynh hướng đó (Sufi) qui tụ phần lớn ở phương Đông. Còn có các phái, chẳng hạn Ismailites, biến thái từ phe Shiites; jafaarites là biến thái của Hồi giáo Shia; ribadites là một nhóm Hồi giáo cổ xưa, rất ít khi được nói tới nhưng cũng có đại diện tại Yemen.

Điều này chứng tỏ sự đồng thuận rộng rãi trong phạm vi phân bộ Hồi giáo, một bước tiến đến chỗ mà Hồi giáo gọi là ijmaa (đồng thuận). Theo truyền thống Hồi giáo mỗi điểm về đức tin được xây dựng trên ba nguồn: Kinh Koran, truyền thống do giáo chủ (hadith hoặc các lời phán hoặc cuộc đời của Mohamet), sự đồng thuận của cộng đoàn (ijmaa). Bước thứ ba này cho đến nay chưa bao giờ được xác định giá trị. Thực ra trong thế giới Hồi giáo có một sự chia rẽ sâu xa: hôm nay một Imam nói thế này, ngày mai ông ta lại nói khác đi.

Lá thư này không nói rằng có sự thỏa thuận giữa tất cả mọi người Hồi giáo, nhưng nó chứng tỏ một bước có phối hợp nhằm đi tới sự đồng thuận nào đó. Sự qui tụ này có được là nhờ bảo trợ của hoàng đế nước Jordan, và tổ chức Aal al Bayt (gia đình của Vị Tiên tri Hồi giáo) do chú của nhà vua là Hoàng tử Hassan lãnh đạo. Ông này đại diện cho những gì là tốt đẹp nhất của Hồi giáo hiện nay về phương diện suy tư, cởi mở và lòng đạo đức. Tuy là tín đồ Hồi giáo ngoan đạo và thành tín, ông đã thành hôn với một phụ nữ Ấn giáo, và điều thật bất thường trong xã hội Hồi giáo thời đại mới, là bà ta không phải cải đạo theo Hồi giáo như đòi hỏi áp dụng cho các phụ nữ theo Kitô giáo ngày nay ở Tây phương, nhưng đó là điều không được dự liệu trong Thiên kinh Koran.

Điểm tích cực thứ nhất của Lá thư do đó là sự kiện có các đại diện cao cấp đến từ một nhóm đồng quy. Lá thư còn một tính cách đại diện nữa là vì được gửi đi khắp thế giới Kitô giáo. Nếu nhìn vào tên những người lá thư gửi đến ta có thể thấy một danh sách được soạn thảo kỹ lưỡng và đầy đủ: ngoài Đức Thánh Cha, còn có tất cả các vị trong truyền thống Kitô giáo tây phương, các thượng phụ của những giáo hội thuộc Calcedon và tiền Calcedon; rồi đến các giáo hội Tin Lành và sau cùng là Hội đồng Thế giới các Giáo hội. Danh sách đầy đủ như thế chứng tỏ rằng đứng đàng sau lá thư là một người biết rõ và hiểu Kitô giáo cũng như lịch sử của giáo hội.

I - Cấu trúc

Mới đi vào nội dung lá thư điều đập ngay vào mắt ta là thấy tiêu đề được rút ra từ Kinh Koran: “Một Từ ngữ Chung giữa Chúng tôi và Quý vị” (Sura of the family of Imram, 3:64). Đây là điều Mohamet nói với người Kitô hữu trong Kinh Koran: khi ông ta không thể đạt được thỏa thuận với họ thì ông ta nói: Hãy xem ta có thể đồng ý với nhau về ít nhất một điểm chung; là chúng ta không tôn thờ ai mà chỉ tôn thờ Chúa (duy nhất chỉ có một Chúa) “và rằng chúng ta không đặt ai làm người chung phần với Người, và không ai trong chúng ta sẽ lấy người khác làm chúa ngoài Thiên Chúa ra.”

Điều phải chú ý là “từ ngữ chung” này trong Kinh Koran không nói gì về Mohamet cả. Câu này không đề cập đến Mohamet như là vị tiên tri, hoặc là vị thiên sứ sau cùng của Chúa. Điều được nhấn mạnh là: từ ngữ chung và tính duy nhất của Chúa. Đó chính là một bước tích cực, khởi đi đúng từ Kinh Koran.

Cấu trúc của lá thư gồm ba phần: phần đầu nhan đề “tình yêu Chúa”, được chia làm hai phần phụ: “tình yêu Chúa trong Hồi giáo” và “tình yêu Chúa là giới răn thứ nhất và lớn lao nhất trong kinh thánh (Bible).” Đúng ra, nhan đề nguyên bản bằng tiếng Ả rập trong lá thư chính xác hơn: “trong sách Tin Mừng (Gospel)”. Bằng cách dùng từ ngữ “Bible” (tức là gồm Cựu ước và Tân ước), Do thái giáo cũng được bao gồm vào cuộc thảo luận (mặc dầu lá thư chỉ gửi cho người Kitô giáo).

Phần thứ hai nhan đề “yêu người lân cận” (hubb al-jâr), cũng được chia làm hai phần phụ: “yêu người trong Hồi giáo” và “yêu người trong Kinh Thánh (Bible)”. Ở đây một lần nữa nguyên văn tiếng Ả rập dùng chữ “trong sách Tin Mừng (Gospel)”.

Phần thứ ba kết luận bằng câu trích từ Kinh Koran: “tiến tới một từ ngữ chung giữa chúng tôi và qúy vị”, và đưa ra một phân tích lý thú với ba phần: “từ ngữ chung”, “tiến tới một từ ngữ chung” và “giữa chúng tôi và qúy vị.”

II – Suy tư về nội dung

Tôi muốn đưa ra một vài nhận định về công trình này.

Trước nhất, có một sự tiếp nối giữa thư thứ nhất và thư thứ hai. Thư đầu kết luận cần phải đi tới một thoả thuận đặt căn bản trên tình yêu Chúa và yêu đồng loại. Với điều này các học giả muốn nói: bây giờ thì chúng tôi khai triển điều chúng tôi đã đặt ra làm căn bản cho mọi liên lạc giữa Hồi giáo và Kitô giáo.

Điều rất thích thú đáng chú ý tới là ngữ vựng dùng trong thư là ngữ vựng Kitô giáo, không phải ngữ vựng Hồi giáo. Từ ngữ “người lân cận (neighbour)” (ý nghĩa là người anh em trong Kitô giáo - brethen) không có trong Kinh Koran nhưng là một từ ngữ tiêu biểu trong Tân ước. Thực ra, bản tiếng Ả rập không dùng chữ “neighbour/brethren” mà dùng “neighbour (jâr)” chỉ có nghĩa về địa lý (chẳng hạn người lân cận sống bên cạnh căn nhà ta đang ở), so sánh với từ qarib của Kitô giáo, có nghĩa là “brethren, người anh em”.

Từ ngữ “love (yêu, mến)” rất ít dùng trong Kinh Koran. Nó cũng không là thành phần trong các từ chỉ tên của Chúa. Không bao giờ người ta nói rằng Chúa là đấng yêu thương, ngay cả khi có những câu đồng nghĩa ít nổi bật hơn. Trái lại từ ngữ này được dùng rộng rãi trong Kitô giáo. Hơn nữa nếu phần thứ nhất, yêu Chúa trong Hồi giáo, được đem ra phân tích thì chúng ta những người Kitô giáo lại thường hiểu là “tuân phục Chúa”, chứ không phải “yêu Chúa”. Nhưng ở đây họ lại dùng chữ như thế để sắp đặt chúng cho phù hợp với từ vựng Kitô giáo. Đó là một ý nghĩ đáng yêu nhưng cũng có chút nguy hiểm vì dễ sa vào bẫy “thỏa hiệp”. Thường thì người Hồi giáo nói về sự thờ lạy (adoration) Chúa; nhưng chủ đề Yêu Chúa lại là một ngôn từ khác, tuy không loại bỏ khỏi Hồi giáo, nhưng thấy rất nhiều trong thế giới thần bí tại Ba tư (Sufism).

Bằng cách nào đi nữa thì khi lá thư nói đến “yêu Chúa” cũng là một điều mới mẻ. Có lẽ đó là cách thức khả dĩ để đề cập đến tông huấn đầu tiên của ĐTC Bênêđictô XVI (Deus caritas est – Thiên Chúa là tình yêu). Chắc rằng điều đó chứng tỏ ý muốn xích lại gần với cách nói của người Kitô giáo, ngay cả khi đồng thời có rủi ro là lấy hai ý nghĩa từ cùng một chữ.

Các vấn nạn khác về từ vựng

Theo bối cảnh này, nguyên bản lá thư bằng tiếng Ả rập dùng những thuật ngữ khác so với các văn bản lá thư bằng Pháp, Ý và Anh ngữ. Chúng ta đã đề cập đến chỗ người Ả rập nói Gospel (sách Tin Mừng) thì ngôn ngữ tây phương lại là Bible (Kinh Thánh). Tôi xin đưa ra một thí dụ khác.

Thí dụ: nói về Đức Kitô, người tây phương luôn luôn dùng “Jesus Christ”. Trong nguyên bản lá thư bằng tiếng Ả rập là “Issa- al-Massih”. Kiểu nói này không có trong Kinh Koran, nhưng là một kết hợp cách người Hồi giáo gọi Giêsu (Issa) – người Ả rập theo Kitô giáo gọi ngài là “Jasua” – và người Kitô giáo định nghĩa “Christ” là “al-Massih”, từ này có trong Kinh Koran. Thuật ngữ trong Kinh Koran là “Al-Massih Issa Ibn Mariam” (đấng Messia Issa con của bà Maria) trong khi người theo Kitô giáo dùng « Jasua’ al-Massih » (Jesus Christ). Như vậy trong văn bản lá thư rải rác có những kiểu diễn đạt lấy trong Kinh Koran kết hợp với các kiểu diễn đạt của Kitô giáo.

Khi họ trích dẫn từ Kinh Koran và sách Tin Mừng, họ dùng hai biện pháp khác biệt. Trích từ Kinh Koran họ viết “Chúa nói” như mọi người Hồi giáo ngoan đạo quen dùng. Khi trích dẫn các câu từ sách Tin Mừng, họ chỉ nói “như thấy trong Tân Ước”, “như đọc thấy trong sách Tin Mừng”, v.v. Điều này có nghĩa là về sách Tin Mừng họ cố tình tiếp cận với tính hàn lâm, trong khi đối với Kinh Koran họ dùng thuật ngữ của một người tin theo Hồi giáo.

Nhưng cuối cùng thì cấu trúc lại thật sự đẹp đẽ: từ đây trở đi chúng ta có thể nói rằng Kitô giáo, Do thái giáo và Hồi giáo có tình yêu Chúa và yêu đồng loại là trung tâm điểm đức tin của họ. Đây là điều thật sự mới mẻ chưa bao giờ được đề cập trước đây trong thế giới Hồi giáo.

Xử dụng Thánh Kinh

Trong lúc trích dẫn từ Tân ước và Cựu ước, họ coi như Kinh Thánh là lời của Chúa. Đây cũng là chuyện tương đối mới. Trong Kinh Koran ý tưởng này được xác nhận theo lý thuyết, nhưng trong thực hành nó bị bác khước. Rất nhiều khi người Hồi giáo coi Kinh Thánh như là sản phẩm (muharrafah hoặc mubaddalah) được thêm thắt nhiều điều sau này vào phần cốt lõi lúc nguyên thủy.

Số 138 người này (trong ghi chú 4) còn đi xa hơn khi trích dẫn lời Thánh Phaolô liên quan đến ý tưởng “trái tim”. Xét chung ra Thánh Phaolô bị đa số lớn lao người Hồi giáo không chấp nhận, ngài còn bị coi là người phản bội sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô, mà theo họ mới chính thức là “sứ điệp Hồi giáo”. Thường những người Hồi giáo cho rằng thông điệp của đấng Kitô giống như thông điệp trong Kinh Koran, nhưng cho rằng Thánh Phaolô mới là người trình bày ra Chúa Ba Ngôi, Sự Cứu độ nhờ Thánh giá, và sự khước từ luật Mosê. Một cuốn sách chống Kitô giáo nổi tiếng, xuất bản năm 2000 và bị cấm tại Labanon, có nhan đề “Lột mặt nạ Phaolô”!

Tất cả những dấu hiệu nhỏ đó cho biết một tấm lòng ao ước thực sự muôn có đối thoại ở cấp độ ngôn ngữ và các chứng từ thánh kinh. Ngay cả có một vài ám chỉ về Do thái giáo, nhằm liên kết tôn giáo này vào trong viễn ảnh. Chẳng hạn dùng từ “dân tộc của kinh thánh” rõ ràng là chỉ về người Do thái, mặc dầu văn bản là chính thức để gửi cho người theo Kitô giáo.

III. Các điểm tích cực và lời bình luận

Bây giờ chúng ta xem xét các mặt tích cực khác của tài liệu này, đồng thời chỉ ra các lỗ hổng và các yếu tố cần phải suy tư sâu xa hơn. Nói tóm lại, tôi muốn bình phẩm về lá thư.

Đi tìm một căn bản chung…nhưng không phải là một căn bản phổ quát

Đọc tiếp nội dung lá thư cảm nghĩ của tôi là nếu cứ đứng ở cấp độ này thì việc đạt tới được thỏa thuận là điều thật dễ. Phương pháp dùng là chọn lựa các trích đoạn trong các sách thánh mà có thể đặt song hành với nhau được. Trong Kinh Koran có những đoạn văn đối nghịch với Kitô giáo, nhưng họ chọn lựa những gì gần gũi hơn và tương đồng hơn. Đây là một bước quan trọng nhưng nếu chúng ta cứ đứng tại mức độ này, chúng ta có nguy cơ tiến hành một cuộc đối thoại dựa trên những điều hàm hồ. Dù sao, với bước tiến đầu tiên, điều hữu ích là nhấn mạnh đến các nền tảng chung của chúng ta.

Ngay trong truyền thống Kitô giáo cũng có một sự tìm kiếm căn bản chung với các tôn giáo khác, cũng như các nền văn hóa khác. Căn bản này, theo nhãn quan Kitô giáo, không đặt nền tảng trên sách Tin Mừng hoặc Kinh Koran, bởi vì điều này loại bỏ những người không tin ra ngoài. Căn bản chung là luật tự nhiên, Thập Giới được coi như các luật tự nhiên, một nền đạo đức chung mà ngay cả những người vô thần cũng chấp nhận.

Trong bài diễn văn đọc trước Uỷ ban Thần học Quốc tế hôm 5 tháng 10 vừa qua, ĐTC nói về luật luân lý tự nhiên, nhằm “biện minh và mô tả các nền tảng của một nền đạo đức phổ cập thuộc về di sản cao cả là sự khôn ngoan của loài người và cho phép các tạo vật có lý trí được tham dự vào luật của Thiên Chúa”. Sau đó ĐTC Bênêđictô XVI tiếp tục đề cập đến Giáo lý của giáo hội Công giáo (s.1955): đời sống luân lý “có then chốt là niềm khát vọng và sự phục tùngThiên Chúa, là nguồn mạch và thẩm phán của mọi sự thiện, và ý thức rằng người khác là bình đẳng với ta”. Thập Giới là “luật tự nhiên” và đã không được trình bày trong ý nghĩa chặt chẽ như thế.

ĐTC nói tiếp rằng khởi đi từ luật tự nhiên, “trong chính nó mọi loài thụ tạo có lý trí đều tiếp cận được, là căn bản để đi vào đối thoại với mọi người có thiện chí, và trên đó xã hội dân sự được xây dựng”.

Cũng như những người ký tên trong Lá thư, ĐTC cố gắng tìm ra một căn bản chung cho cuộc đối thoại với mọi người; căn bản này không thể là Thánh kinh, nhưng là các nền đạo đức phổ quát tìm thấy trong luật tự nhiên.

Lá thư của các chuyên gia Hồi giáo gửi cho người Kitô giáo ngừng lại ở những điểm chung trong Kinh Thánh và Kinh Koran. Tôi nghĩ rằng bước kế tiếp giửa người Kitô giáo và Hồi giáo là tìm ra một căn bản phổ quát hơn. Điều này bao gồm những yếu tố của các Sách Thánh được mọi người chấp nhận; nhưng nên đi xa hơn thế để tìm ra một căn bản cho cuộc đối thoại phổ cập.

Đây là điều thiếu sót trong Lá thư vì chỉ nỗ lực tái thiết lập quan hệ giữa người Kitô giáo và Hồi giáo. Điều này được nói rõ rệt trong phần mở đầu, nhắc lại rằng cùng nhau “chúng ta đại diện cho 55% dân số thế giới”. Do đó nếu đạt được thỏa thuận chúng ta có thể đem lại hòa bình trên thế giới. Đó là một sự tiếp cận chiến lược, chính trị. Chúng ta cần tiến tới nền tảng của hoà bình dựa trên lý trí, tìm thấy được trong chân lý.

Đó là lý do tại sao, như Đức Hồng Y Tauran chỉ ra, văn bản này thu hút sự chú ý, nó mở ra nhiều con đường mới cả vể phương pháp lẫn nội dung nhưng cần được thăm dò sâu hơn nữa để làm cho nó có chủ đích hơn và không có tính cách chọn lựa, nhằm trở thành phổ cập hơn và ít tính cách chính trị hơn.

Phân biệt giữa chính trị và con người

Từ quan điểm này, chúng ta phải thêm vào một ghi chú khác nữa để phê phán. Tại một điểm nào đó, Lá thư yêu cầu người Kitô giáo “coi người Hồi giáo không phải là người chống đối lại, mà là người cùng thuận thảo với họ, với điều kiện là người Kitô giáo đừng tuyên chiến”. Ở đây có lẽ họ ám chỉ đến các vấn đề tại Palestine, Iraq và Afghanistan…, nhưng tại những nơi đó không phải là những người Kitô hữu như họ nghĩ đang tham dự vào chiến tranh.

Những người Mỹ tại Iraq (nếu đó là điều Lá thư nói đến) không phải ở Iraq trong vai trò những người Kitô giáo đàn áp những người Hồi giáo: không có yếu tố Hồi giáo hay Kitô giáo nào liên hệ ở đó. Đúng hơn nó là một vấn đề chính trị giữa Hoa kỳ và các quốc gia vùng Trung Đông. Và dù nếu chúng biết rằng tổng thống Hoa kỳ là một người theo Kitô giáo và ông được hướng dẫn bằng đức tin của mình, thì cũng không có cách nào mà cho rằng đây là một cuộc chiến giữa người Kitô giáo chống lại người Hồi giáo.

Đây là một điểm quan trọng bởi vì người Hồi giáo có khuynh hướng coi Tây phương là một thế lực Kitô giáo, mà không nhận thức được rằng Tây phương đã tục hóa và đã rời xa nền đạo đức Kitô giáo. Dòng tư tưởng này gia tăng sức mạnh cho lý thuyết về một cuộc đụng độ văn hóa (hay tôn giáo), đúng vào lúc có những bước tiến được thực hiện nhằm chống phá một lý thuyết như vậy.

Một kết luận đẹp áẽ: chung sống trong khác biệt

Một điểm chót: Trong Lá thư một câu trong Thiên Kinh Koran về sự bao dung được trích dẫn: “Nếu Chúa muốn, Người đã có thể làm cho các ngươi trở thành một cộng đồng rồi. Nhưng Người có thể thử thách ngươi theo điều mà Người đã ban cho ngươi (Người đã tạo ra ngươi thành con người riêng biệt). Vì thế hãy thi đua nhau làm các việc tốt. Tất cả các ngươi sẽ trở về cùng Chúa, và lúc đó Người sẽ cho ngươi biết ngươi khác biệt ở chỗ nào (Al-Ma’idah, 5:48)

Câu này là phần áp chót theo thứ tự thời gian trong Kinh Koran. Có nghĩa là nó đã không thể được hủy bỏ hay bị thay thế bằng một câu khác, theo lý thuyết Hồi giáo về cách thức giải thích Kinh Koran, cái gọi là từ sự bãi bỏ đến việc bị bãi bỏ (nâsikh wa-l-mansukh). Câu này là căn bản bởi vì nó nói lên rằng những khác biệt về tôn giáo của chúng ta là do Thượng Đế định. Kết quả là: “Vì thế hãy tranh đua với nhau trong các việc tốt” như là một phương pháp để đối thoại. Đây thực là một lựa chọn tốt đẹp để kết thúc Lá thư, bởi vì nó có nghĩa là chúng ta có thể chung sống với nhau mặc dù có những dị biệt, hơn nữa chính Thượng Đế muốn có sự khác biệt đó.

Hướng về tương lai

Lá thư là bước đầu đi tới đối thoại giữa người Kitô giáo và người Hồi giáo. Thường thì người Kitô giáo đã có sáng kiến về đối thoại và họ đã xúc tiến một cách tốt đẹp. Điều quan trọng là những bước đầu tiên này phải tiếp tục theo chiều hướng đó nhưng cần minh bạch hơn, cần trình bày cả những khó khăn và nhu cầu sửa đổi. Vì Lá thư được gửi cho nhiều nhà lãnh đạo khác nhau của thế giới Kitô giáo, chúng ta có thể hy vọng rằng sẽ có phúc đáp vì lá thư là kết quả của một nỗ lực lớn lao về phần người Hồi giáo.

Nhưng Lá thư này chắc chắn còn hướng đến những người Hồi giáo nữa, dù điều đó không minh nhiên xác định. Nó sẽ mang sức ép nào vào thế giới Hồi giáo, nơi mà các linh mục tiếp tục bị bắt cóc, kẻ bội giáo bị bách hại, người theo Kitô giáo bị đàn áp? Cho đến nay chưa có lời bình luận nào từ phía Hồi giáo. Nhưng thiết nghĩ rằng với thời gian tài liệu này có thể tạo ra một sự cởi mở và một sự hội tụ lớn lao hơn.

Trên hết cả, người ta hy vọng rằng bước kế tiếp sẽ đặt trọng tâm vào các vấn đề tế nhị hơn như tự do tôn giáo, giá trị tuyệt đối của nhân quyền, sự liên hệ giữa tôn giáo và xã hội, sự sử dụng bạo lực, v.v., tóm lại là các vấn đề hiện nay đang làm lo lắng cả thế giới Hồi giáo (và như tôi đã nói trên: tất cả các dân tộc theo Hồi giáo) cũng như Tây phương.

Muốn đọc toàn văn Lá thư bằng tiếng Ả rập, Anh, Pháp và Ý xin theo link sau đây:

http://www.acommonword.com/index.php?lang=en&page=downloads

Bài của Samir Khalil Samir, Dòng Tên – Phạm Hoàng Nghị dịch